hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
Nhập email của bạn để lấy lại mật khẩu
Mục tiêu đưa kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản đạt 100 tỷ USD vào năm 2027 không chỉ là một chỉ tiêu tăng trưởng mà còn là phép thử đối với năng lực tái cấu trúc toàn bộ nền kinh tế nông nghiệp.
Năm 2025 đánh dấu cột mốc quan trọng khi kim ngạch xuất khẩu nông, lâm, thủy sản lần đầu vượt 70 tỷ USD, mang lại khoảng 20 tỷ USD xuất siêu và tiếp tục khẳng định vai trò trụ đỡ của nền kinh tế. Tuy nhiên, bức tranh 6 tháng đầu năm 2026 cũng cho thấy những thách thức ngày càng rõ nét khi kim ngạch đạt 35,88 tỷ USD, tăng khoảng 6% so với cùng kỳ.

Khoảng cách gần 30 tỷ USD để cán đích 100 tỷ USD vào năm 2027 đồng nghĩa với việc toàn ngành phải duy trì tốc độ tăng trưởng trên 15% mỗi năm, trong khi một số lĩnh vực như thủy sản còn phải đạt mức tăng trưởng cao hơn nhiều. Đây là mục tiêu đầy tham vọng trong bối cảnh thương mại toàn cầu phục hồi chậm, chi phí logistics biến động và các hàng rào kỹ thuật liên tục được siết chặt.
Theo ông Âu Anh Tuấn, Phó Cục trưởng Cục Hải quan (Bộ Tài chính), nhận định để đạt mốc 100 tỷ USD vào năm 2027, tức là trong vòng hơn một năm tới, kim ngạch phải tăng trưởng trên 15% mỗi năm. Đây là thách thức rất lớn trong bối cảnh tăng trưởng toàn cầu chậm, xu hướng bảo hộ thương mại gia tăng và chi phí logistics biến động.
Áp lực tăng trưởng cũng đặt ra yêu cầu phải thay đổi tư duy phát triển. Mô hình dựa chủ yếu vào mở rộng diện tích và gia tăng sản lượng đang dần bộc lộ giới hạn bởi biến đổi khí hậu, suy giảm tài nguyên đất, nguồn nước cũng như áp lực về phát triển xanh.
TS. Nguyễn Sĩ Dũng, nguyên Phó Chủ nhiệm Văn phòng Quốc hội cho rằng, mục tiêu 100 tỷ USD chỉ có thể đạt được khi ngành nông nghiệp chuyển sang một mô hình phát triển hoàn toàn khác. "Chúng ta chỉ có thể đạt được mục tiêu nếu chuyển từ sản xuất nông nghiệp sang kinh tế nông nghiệp. Không chỉ là tăng sản lượng, mà phải bán chất lượng, bán thương hiệu, bán sự tin cậy và bán cả câu chuyện của sản phẩm" - TS. Nguyễn Sĩ Dũng nhận định.
Quan điểm này cũng phản ánh xu hướng phát triển của nhiều nền nông nghiệp hiện đại, nơi giá trị không còn nằm ở sản lượng mà nằm trong chất lượng sản phẩm, thương hiệu, tiêu chuẩn và năng lực quản trị chuỗi cung ứng.

Từ quan điểm của doanh nghiệp xuất khẩu, ông Nguyễn Hoài Nam, Tổng Thư ký Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu Thủy sản Việt Nam (VASEP), cho rằng nếu vẫn duy trì cách làm cũ, mục tiêu 100 tỷ USD sẽ rất khó thành hiện thực. “Chúng ta bắt buộc phải có một mô hình mới, khác biệt" – ông Nam khẳng định.
Theo ông, cần một chương trình hành động quyết liệt theo tinh thần "500 ngày đêm", huy động sự tham gia đồng bộ của doanh nghiệp, hiệp hội và các địa phương để tạo động lực tăng trưởng mới.
Thực tế cũng cho thấy nhiều điểm nghẽn đang cản trở khả năng bứt phá của ngành. Các doanh nghiệp chế biến, đặc biệt tại Đồng bằng sông Cửu Long, đang thiếu hụt lao động khiến nhiều nhà máy chỉ hoạt động khoảng một nửa công suất. Trong khi đó, các thị trường lớn như Mỹ, EU và Nhật Bản liên tục nâng cao tiêu chuẩn về phát thải carbon, truy xuất nguồn gốc và sản xuất bền vững.
Một hạn chế khác là giá trị gia tăng của nhiều mặt hàng xuất khẩu còn thấp. Dù giữ vị trí hàng đầu thế giới về xuất khẩu nhiều loại nông sản, phần lớn sản phẩm của Việt Nam vẫn được bán dưới dạng nguyên liệu hoặc sơ chế, trong khi giá trị lớn nhất nằm ở các khâu chế biến, thương hiệu và hệ thống phân phối.
Để tạo bước nhảy về giá trị, nhiều chuyên gia cho rằng trọng tâm không còn là mở rộng sản lượng mà là kéo dài chuỗi giá trị ngay tại Việt Nam.
Chế biến sâu được xem là dư địa tăng trưởng lớn nhất. Việc phát triển các sản phẩm như nước ép, thực phẩm sấy, tinh dầu, nguyên liệu thực phẩm hay mỹ phẩm không chỉ nâng cao giá trị gia tăng mà còn giúp doanh nghiệp giảm phụ thuộc vào tính mùa vụ, tận dụng phụ phẩm và nâng cao hiệu quả sử dụng nguyên liệu.
Bên cạnh nguồn nguyên liệu trong nước, chiến lược nhập khẩu nguyên liệu từ nước ngoài để chế biến rồi tái xuất cũng được đánh giá là hướng đi giúp tối ưu công suất nhà máy, mở rộng quy mô sản xuất và tăng tốc vòng quay vốn.
Song song với chế biến sâu, dữ liệu số đang trở thành một yếu tố quyết định năng lực cạnh tranh của nông sản Việt Nam.
Nếu trước đây mã số vùng trồng, nhật ký sản xuất hay hồ sơ truy xuất nguồn gốc chủ yếu phục vụ thủ tục xuất khẩu thì hiện nay dữ liệu đã trở thành một phần cấu thành giá trị của sản phẩm.

Ông Tô Nguyễn Thành, chuyên gia khoa học công nghệ về truy xuất nguồn gốc, cho biết nhiều mô hình đã tiến tới định danh toàn bộ quá trình sản xuất. Việc số hóa toàn bộ chuỗi cung ứng sẽ tạo nền tảng để ứng dụng trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data) trong dự báo thị trường, cảnh báo dịch bệnh, quản trị chất lượng cũng như kết nối với các mô hình cửa khẩu thông minh và hải quan thông minh.
Khi dữ liệu được liên thông giữa nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp và cơ quan quản lý, quá trình khai báo, kiểm dịch và thông quan có thể được tự động hóa, góp phần giảm thời gian chờ đợi và chi phí logistics.
Theo các chuyên gia, minh bạch dữ liệu cũng chính là cách tạo dựng "lòng tin số" đối với người mua quốc tế. Đây sẽ là lợi thế cạnh tranh quan trọng trong bối cảnh các thị trường nhập khẩu ngày càng yêu cầu cao về truy xuất nguồn gốc và phát triển bền vững.
Bên cạnh chuyển đổi số, xây dựng thương hiệu cũng được xem là mắt xích còn thiếu của nông sản Việt Nam. Doanh nghiệp không chỉ bán sản phẩm mà cần bán chất lượng, sự tin cậy và câu chuyện thương hiệu, đồng thời phát triển các dòng sản phẩm chuyên biệt cho từng phân khúc thị trường, mở rộng sang các thị trường ngách có giá trị cao.
Để các giải pháp này phát huy hiệu quả, nhiều ý kiến cho rằng cần một cơ chế điều phối đủ mạnh ở cấp Chính phủ nhằm tháo gỡ các điểm nghẽn về logistics, kiểm dịch và phối hợp liên ngành.
Ông Âu Anh Tuấn cho rằng: "Cần thiết phải có một tổ công tác của Thủ tướng Chính phủ để giải quyết các vướng mắc về chính sách. Nếu giao cho chính các bộ ngành đó tự sửa thì rất khó thay đổi."
Đồng quan điểm, ông Nguyễn Thanh Bình, Chủ tịch Hiệp hội Rau quả Việt Nam (Vinafruit), đề xuất thành lập một tổ điều hành mang tầm Chính phủ để điều phối hoạt động giữa các bộ, ngành, tạo sự thống nhất trong toàn bộ chuỗi giá trị xuất khẩu.
Trong khi đó, ông Đặng Kim Sơn, nguyên Viện trưởng Viện Chính sách và Chiến lược phát triển nông nghiệp, nông thôn, cho rằng khát vọng 100 tỷ USD hoàn toàn có cơ sở nếu ngành nông nghiệp tạo được những đột phá về tư duy và phương thức phát triển.
TS. Nguyễn Sĩ Dũng cũng nhấn mạnh, khi tất cả các mắt xích từ người nông dân, hợp tác xã, doanh nghiệp đến các cơ quan quản lý được kết nối trong một hệ sinh thái thống nhất, chuỗi giá trị nông sản Việt Nam sẽ vận hành hiệu quả hơn.
Mục tiêu xuất khẩu 100 tỷ USD là cơ hội để tái cấu trúc nền kinh tế nông nghiệp theo hướng hiện đại, minh bạch và có giá trị gia tăng cao hơn. Đối với cộng đồng doanh nghiệp và nhà đầu tư, quá trình chuyển đổi này cũng mở ra không gian phát triển mới trong các lĩnh vực chế biến sâu, công nghệ nông nghiệp, logistics, hạ tầng dữ liệu và xây dựng thương hiệu kỳ vọng sẽ quyết định năng lực cạnh tranh của nông sản Việt Nam trong giai đoạn phát triển tiếp theo.