hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
Nhập email của bạn để lấy lại mật khẩu
Cụ thể hóa các khái niệm điện gió ngoài khơi và điện khí LNG trong Dự thảo Luật Điện lực (sửa đổi) để xác lập vị thế nguồn điện nền, đảm bảo an ninh năng lượng quốc gia.
Dự thảo Luật Điện lực (sửa đổi) không chỉ là việc điều chỉnh các điều khoản kỹ thuật mà còn là lời giải cho bài toán chuyển dịch năng lượng bền vững. Trong bối cảnh Việt Nam cam kết mạnh mẽ về phát thải ròng bằng không, việc đưa thủy điện tích năng vào nhóm năng lượng tái tạo và phân cấp thẩm quyền cho địa phương đã cho thấy tư duy quản lý cởi mở, hướng tới việc huy động tối đa nguồn lực xã hội.

Tuy nhiên, một trong những điểm nghẽn lớn nhất hiện nay chính là sự thiếu vắng các định nghĩa pháp lý sắc lường cho những loại hình năng lượng mới. Theo TS. Phan Ngọc Trung, Trưởng Ban Tư vấn Phản biện Hội Dầu khí Việt Nam, để các dự án tỷ đô như điện gió ngoài khơi hay điện khí LNG có thể về đích, Luật cần phải gọi tên chúng một cách cụ thể nhất.
Việc xác định rõ điện gió ngoài khơi bao gồm cả công trình móng cố định và móng nổi không chỉ là vấn đề thuật ngữ, mà là cơ sở để các nhà đầu tư tính toán bài toán rủi ro và hiệu quả trên từng mét vuông mặt biển.
Điểm đột phá khác của dự thảo lần này là khung pháp lý cho thị trường chứng chỉ năng lượng tái tạo (REC). Đây được xem là tấm vé thông hành để hàng hóa Việt Nam tiến sâu vào các thị trường khắt khe như EU hay Mỹ, nơi các rào cản thuế carbon đang dần hiện hữu.
Việc bãi bỏ các thủ tục kinh doanh rườm rà và đẩy mạnh dịch vụ công trực tuyến cũng cho thấy nỗ lực của Bộ Công Thương trong việc tạo ra một môi trường đầu tư minh bạch, nơi doanh nghiệp được tập trung vào chuyên môn thay vì mệt mỏi với các rào cản hành chính.
Nếu điện gió ngoài khơi là tương lai của năng lượng xanh thì điện khí LNG chính là nguồn điện nền không thể thay thế trong giai đoạn chuyển quá. Một hệ thống điện có tỷ trọng năng lượng tái tạo cao luôn đối mặt với rủi ro mất ổn định do tính chất chập chờn của thời tiết. Lúc này, khả năng vận hành linh hoạt của các nhà máy điện LNG sẽ đóng vai trò như một bộ đệm hoàn hảo, giữ cho lưới điện quốc gia luôn trong trạng thái an toàn.

TS. Phan Ngọc Trung nhấn mạnh, Luật cần khẳng định rõ chủ trương ưu tiên phát triển điện khí, bao gồm cả nguồn khí trong nước và LNG nhập khẩu. Điều này phải đi đôi với việc khuyến khích đầu tư hạ tầng đồng bộ từ kho cảng tiếp nhận đến hệ thống tái hóa khí.
Nếu không có một hành lang pháp lý đủ mạnh cho hạ tầng khí, các nhà máy điện dù hiện đại đến đâu cũng sẽ rơi vào tình cảnh đói nhiên liệu hoặc gặp khó khăn trong việc đàm phán giá khí đầu vào.
Đồng quan điểm, nhiều chuyên gia và doanh nghiệp năng lượng bày tỏ lo ngại về thực trạng một số dự án lớn dù đã nằm trong quy hoạch nhưng vẫn vấp phải các rào cản về cơ chế thị trường và khả năng huy động công suất. Việc sửa luật lần này vì thế cần giải quyết triệt để mối quan hệ giữa quy hoạch và thực thi.
Luật phải là công cụ bảo đảm, một khi dự án đã được cấp phép, các cơ chế về giá và tiêu thụ điện phải được vận hành theo quy luật thị trường, tránh tình trạng đầu tư lãng phí hoặc đắp chiếu dự án do vướng cơ chế.
Sửa Luật Điện lực không chỉ là yêu cầu cấp bách để đáp ứng nhu cầu điện năng đang tăng trưởng mỗi năm mà còn là cơ hội để Việt Nam xây dựng một nền công nghiệp năng lượng biển hùng mạnh.
Khi các khái niệm được làm rõ, chủ trương ưu tiên được khẳng định và hạ tầng được đầu tư đồng bộ, dòng chảy năng lượng từ biển khơi và những dòng khí LNG sẽ trở thành động lực mới đưa nền kinh tế Việt Nam bứt tốc mạnh mẽ.
Việt Nam có hơn 3.260km đường bờ biển, lãnh hải rộng 12 hải lý, vùng đặc quyền kinh tế có chiều rộng 200 hải lý tính từ đường cơ sở. Lưu lượng gió trên vùng biển nước ta, đặc biệt là Biển Đông, có mật độ rất cao và liên tục. Theo báo cáo của Trung tâm Dự báo khí tượng thủy văn, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, vùng biển Vịnh Bắc Bộ và khu vực Ninh Thuận-Vũng Tàu, tiềm năng kỹ thuật năng lượng gió trung bình đạt khoảng 500W/m2. Nghiên cứu sơ bộ cho thấy, diện tích vùng biển đặc quyền kinh tế của nước ta (EEZ) có thể xây dựng điện gió lên tới hơn 300.000km2. Tổng công suất kỹ thuật có thể thu được hơn 1.000GW. Trong khi đó, vùng nước ven bờ (khoảng cách dưới 6 hải lý), tổng công suất có thể thu được khoảng 58GW.