Thứ sáu, 20/06/2025 22:36 (GMT+7)

Sản xuất công nghiệp và xuất nhập khẩu bứt tốc, tiếp lực cho tăng trưởng kinh tế năm 2025

Minh Anh

Trong bối cảnh kinh tế thế giới và trong nước vẫn đối mặt với nhiều biến động và thách thức, khu vực sản xuất công nghiệp cùng hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa đã vươn lên mạnh mẽ, trở thành hai động lực then chốt giúp duy trì đà phục hồi và tạo nền tảng vững chắc cho tăng trưởng kinh tế.  

 

Chỉ số sản xuất công nghiệp phục hồi mạnh mẽ

 

Tính đến hết tháng 5/2025, chỉ số sản xuất công nghiệp (IIP) của Việt Nam ước tăng 8,8% so với cùng kỳ năm 2024, mức tăng cao hơn hẳn so với mức 7,1% của năm trước. Đáng chú ý, ngành chế biến, chế tạo ghi nhận mức tăng ấn tượng 10,8%, cao hơn 3 điểm phần trăm so với cùng kỳ. Điều này cho thấy hoạt động sản xuất công nghiệp không chỉ phục hồi mà còn mở rộng và nâng cao chất lượng, đặc biệt ở các lĩnh vực sử dụng công nghệ và lao động chuyên môn cao.

 

Bên cạnh ngành chế biến, chế tạo, nhiều lĩnh vực khác cũng cho thấy tín hiệu tích cực. Ngành sản xuất và phân phối điện tăng 4,2%, ngành cung cấp nước, hoạt động quản lý và xử lý rác thải, nước thải tăng 10%, cao hơn gần gấp đôi mức tăng của cùng kỳ năm trước (5,9%). Mức tăng này phản ánh nhu cầu tiêu dùng và sản xuất trong nước đang tăng dần trở lại, kéo theo nhu cầu năng lượng và dịch vụ môi trường đô thị.

 

Ảnh minh hoạ. Nguồn: IT
Ảnh minh hoạ. Nguồn: IT

 

Một số ngành công nghiệp trọng điểm ghi nhận mức tăng trưởng đột phá. Sản xuất xe có động cơ tăng tới 34,3%, cho thấy tín hiệu phục hồi mạnh từ thị trường tiêu dùng và đầu tư. Sản xuất da và các sản phẩm liên quan tăng 16,8%; sản phẩm từ cao su và plastic tăng 16,1%; trang phục tăng 15,7%; phương tiện vận tải khác tăng 14,1%; than cốc và sản phẩm dầu mỏ tinh chế tăng 12,4%; sản phẩm khoáng phi kim loại khác tăng 11,3%... Những con số này phản ánh sự lan tỏa rộng rãi của chuỗi cung ứng nội địa, khả năng thích ứng và phục hồi mạnh mẽ của doanh nghiệp trong nước.

 

Đặc biệt, nhiều sản phẩm công nghiệp chủ lực có mức tăng trưởng rất cao. Sản lượng ô tô tăng 70,3%; tivi tăng 25,6%; khí hóa lỏng LPG tăng 21,7%; phân bón NPK tăng 18,8%; thép cán tăng 13,8%; xi măng tăng 12,9%; giày dép da tăng 11,5%; đường kính tăng 10,9%. Những mặt hàng này không chỉ đáp ứng nhu cầu trong nước mà còn đóng góp đáng kể vào kim ngạch xuất khẩu.

 

Điểm sáng khác đến từ sự phân bố rộng của tăng trưởng công nghiệp. Trong số 63 tỉnh, thành phố, có tới 61 địa phương ghi nhận mức tăng chỉ số sản xuất công nghiệp, đặc biệt là các địa phương như Phú Thọ tăng 46,7%; Nam Định tăng 29,6%; Bắc Giang tăng 28,1%; Bắc Kạn tăng 23,6%; Hà Nam tăng 22,5%; Quảng Ngãi tăng 22,2%. Ngoài ra, một số địa phương có chỉ số sản xuất và phân phối điện tăng cao như Hòa Bình (53,6%), Thừa Thiên – Huế (39,6%), Sơn La (30,5%)... Đây là minh chứng cho sự lan tỏa phát triển công nghiệp về các vùng ngoài đô thị trung tâm, nhờ chính sách thu hút đầu tư, phát triển hạ tầng và phân bố lại nguồn lực sản xuất.

 

Xuất nhập khẩu hàng hóa khởi sắc mạnh mẽ

 

Song song với tăng trưởng sản xuất, hoạt động xuất nhập khẩu hàng hóa cũng duy trì đà khởi sắc. Trong 5 tháng đầu năm, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu hàng hóa đạt 355,79 tỷ USD, tăng 15,7% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, xuất khẩu đạt 180,23 tỷ USD (tăng 14,0%), nhập khẩu đạt 175,56 tỷ USD (tăng 17,5%), giúp cán cân thương mại tiếp tục duy trì xuất siêu 4,67 tỷ USD.

 

Đáng chú ý, cả hai khu vực kinh tế trong nước và có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) đều tăng trưởng mạnh. Khu vực trong nước xuất khẩu 49,62 tỷ USD, tăng 12,5%, chiếm 27,5% tổng kim ngạch; khu vực FDI xuất khẩu 130,61 tỷ USD, tăng 14,5%, chiếm 72,5%. Có tới 7 mặt hàng xuất khẩu đạt giá trị trên 5 tỷ USD, chiếm tới 67,3% tổng kim ngạch.

 

Xuất khẩu nông, thủy sản đạt gần 17,7 tỷ USD, tăng 15,8%, nhờ giá xuất khẩu nhiều mặt hàng tăng mạnh.
Xuất khẩu nông, thủy sản đạt gần 17,7 tỷ USD, tăng 15,8%, nhờ giá xuất khẩu nhiều mặt hàng tăng mạnh. Nguồn: IT

 

Cơ cấu mặt hàng xuất khẩu ghi nhận mức tăng mạnh ở cả hai nhóm chính: nông – thủy sản và công nghiệp chế biến. Xuất khẩu nông, thủy sản đạt gần 17,7 tỷ USD, tăng 15,8%, nhờ giá xuất khẩu nhiều mặt hàng tăng mạnh. Đơn cử như cà phê, dù lượng xuất giảm nhẹ 0,6% nhưng kim ngạch tăng đến 62,3%; hạt tiêu giảm 22,5% về lượng nhưng tăng 40,5% về giá trị; cao su và nhân điều cũng tăng lần lượt 21,7% và 19,4% về kim ngạch.

 

Đối với nhóm hàng công nghiệp chế biến, kim ngạch đạt gần 153 tỷ USD, tăng 14,5%. Xuất khẩu máy vi tính, sản phẩm điện tử và linh kiện đạt 38,4 tỷ USD, tăng 39,7%; máy móc, thiết bị, dụng cụ và phụ tùng đạt 22 tỷ USD, tăng 16,4%; dệt may đạt 15,06 tỷ USD (tăng 12%); giày dép đạt 9,75 tỷ USD (tăng 11,5%). Các mặt hàng này vừa có giá trị cao, vừa chiếm tỷ trọng lớn trong tổng kim ngạch xuất khẩu, tiếp tục là động lực tăng trưởng chính.

 

Với xuất khẩu, Mỹ vẫn là thị trường xuất khẩu lớn nhất của Việt Nam với kim ngạch 57,2 tỷ USD, tăng 27,4%, chiếm gần 31,7% tổng kim ngạch. EU đứng thứ hai với 23 tỷ USD (tăng 12%), tiếp theo là Trung Quốc với 23,5 tỷ USD (tăng 3,2%). Hàn Quốc và Nhật Bản cũng ghi nhận mức tăng trưởng lần lượt là 10,6% và 10,7%. Mở rộng thị phần tại các thị trường chủ lực này thể hiện năng lực thích ứng và chất lượng hàng hóa xuất khẩu của Việt Nam ngày càng nâng cao.

 

Ở chiều ngược lại, nhập khẩu cũng tăng mạnh, nhưng phần lớn là nhập khẩu máy móc, nguyên phụ liệu phục vụ sản xuất, cho thấy mức độ phục hồi của sản xuất trong nước. Nhóm hàng này chiếm tới 89% tổng kim ngạch nhập khẩu (gần 156,5 tỷ USD), tăng 17,8%. Một số mặt hàng tăng mạnh như máy vi tính, linh kiện (56 tỷ USD, tăng 38,3%); máy móc thiết bị (22,89 tỷ USD, tăng 22,7%); chất dẻo nguyên liệu, nguyên phụ liệu dệt may – da giày... đều tăng trưởng khả quan.

 

Trung Quốc tiếp tục là thị trường nhập khẩu lớn nhất với kim ngạch 69,35 tỷ USD (tăng 25%), chiếm gần 40% tổng kim ngạch nhập khẩu. Các đối tác khác như Hàn Quốc (23,67 tỷ USD), ASEAN (22,28 tỷ USD), Nhật Bản (9,67 tỷ USD), Mỹ (7,2 tỷ USD) cũng duy trì mức tăng từ 7% đến 20%.

 

Tổng xuất siêu trong 5 tháng đạt 4,67 tỷ USD, thấp hơn so với 8,71 tỷ USD cùng kỳ 2024, nhưng vẫn cho thấy sự vững vàng của thương mại Việt Nam. Khu vực FDI xuất siêu 17,09 tỷ USD, trong khi khu vực trong nước nhập siêu 12,42 tỷ USD. Xét theo thị trường, Việt Nam xuất siêu lớn sang Mỹ (49,9 tỷ USD), EU (16,3 tỷ USD), Nhật Bản (0,9 tỷ USD); trong khi nhập siêu chủ yếu từ Trung Quốc (45,9 tỷ USD), Hàn Quốc (12,3 tỷ USD), ASEAN (6,5 tỷ USD).