hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
Nhập email của bạn để lấy lại mật khẩu
Phân bón giả, kém chất lượng không chỉ gây thiệt hại cho người nông dân mà còn tạo sức ép cạnh tranh bất bình đẳng đối với doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh chân chính.
Phân bón giữ vai trò quan trọng trong sản xuất nông nghiệp, góp phần nâng cao năng suất, chất lượng nông sản và hiệu quả canh tác. Những năm qua, nhiều doanh nghiệp đã đầu tư đổi mới công nghệ, mở rộng năng lực sản xuất, phát triển các dòng phân bón chuyên dùng, phân bón hữu cơ và sinh học, hướng đến nền nông nghiệp hiệu quả, bền vững. Tuy nhiên, tình trạng phân bón giả, phân bón kém chất lượng vẫn diễn biến phức tạp, với phương thức sản xuất và tiêu thụ ngày càng tinh vi.

Mới đây, Hiệp hội Phân bón Việt Nam đã tổ chức Hội thảo “Phân bón giả – Nhận diện, ngăn chặn và xử lý”, với chủ đề “Tăng cường phối hợp Nhà nước – Hiệp hội – Doanh nghiệp trong việc làm sạch thị trường phân bón Việt Nam”. Hội thảo có sự tham dự của đại diện các cơ quan quản lý nhà nước, lực lượng chức năng, các hội, hiệp hội, chuyên gia, nhà khoa học và cộng đồng doanh nghiệp sản xuất, kinh doanh phân bón.
Các ý kiến tại hội thảo tập trung vào những khó khăn trong nhận diện, kiểm nghiệm, kiểm soát lưu thông và xử lý phân bón giả; đồng thời đề xuất giải pháp tăng cường phối hợp giữa các bên nhằm nâng cao hiệu quả quản lý thị trường.
Theo ông Tạ Quang Hậu, kiểm soát viên chính thị trường, Phòng Nghiệp vụ Quản lý thị trường, Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước, trong 10 tháng đầu năm 2026, lực lượng Quản lý thị trường đã kiểm tra, xử lý 105 vụ vi phạm liên quan đến phân bón, với tổng số tiền xử phạt hành chính hơn 3,63 tỷ đồng; chuyển cơ quan điều tra 4 vụ.

Các hành vi vi phạm chủ yếu gồm kinh doanh hàng hóa không rõ nguồn gốc, xuất xứ; hàng nhập lậu; hàng giả mạo nhãn hiệu, xâm phạm quyền đối với nhãn hiệu và vi phạm quy định về ghi nhãn hàng hóa.
Đáng chú ý, phương thức sản xuất, kinh doanh phân bón giả ngày càng khó nhận diện. Một số đối tượng cố tình làm giảm hàm lượng dinh dưỡng như đạm, lân, kali, thay thế bằng nguyên liệu giá rẻ hoặc chất phụ gia có màu sắc tương tự sản phẩm đạt chất lượng. Một số trường hợp thu gom bao bì của các thương hiệu uy tín để đóng gói hàng giả, khiến người mua khó phân biệt bằng mắt thường.
Trong khâu phân phối, hàng giả có thể được đưa qua nhiều tầng đại lý, chia nhỏ lô hàng hoặc sử dụng doanh nghiệp trung gian để che giấu nguồn gốc. Các đối tượng còn tận dụng mạng xã hội, hoạt động livestream và chương trình giới thiệu sản phẩm, tặng quà để tiếp cận trực tiếp người nông dân.
Thực tế được đề cập trong báo cáo tổng quan của Hiệp hội Phân bón Việt Nam cho thấy, trong năm 2026, lực lượng chức năng tại nhiều địa phương đã phát hiện các vụ việc có quy mô lớn.
Điển hình, tại Đắk Lắk, thông tin điều tra ban đầu cho thấy một đường dây trong giai đoạn 2025 - 2026 đã đưa ra thị trường hơn 24.200 tấn phân bón mang nhãn xuất xứ Bỉ, trị giá trên 159 tỷ đồng. Lực lượng chức năng thu giữ gần 627 tấn phân bón giả cùng hơn 957 tấn nguyên liệu, phân bón phục vụ pha trộn, đóng gói.
Những vụ việc này cho thấy nguy cơ phân bón giả không chỉ nằm ở chất lượng sản phẩm mà còn liên quan đến quy mô tổ chức sản xuất, phương thức phân phối và khả năng tiếp cận người tiêu dùng.
Đối với nông dân, thiệt hại có thể vượt xa số tiền bỏ ra mua phân bón, bởi sản phẩm không bảo đảm chất lượng có thể làm giảm hiệu quả chăm sóc, ảnh hưởng đến năng suất và chất lượng nông sản, thậm chí tác động đến cả vụ sản xuất. Với doanh nghiệp chân chính, hàng giả tạo ra sức ép cạnh tranh bất bình đẳng, ảnh hưởng đến thị phần, doanh thu và uy tín thương hiệu.
Một trong những thách thức lớn của công tác quản lý chất lượng phân bón là số lượng sản phẩm lưu hành lớn, chủng loại đa dạng, trong khi việc lấy mẫu và kiểm nghiệm đòi hỏi quy trình kỹ thuật chặt chẽ.
Theo TS. Trương Hợp Tác, chuyên gia phân bón và cây trồng, Việt Nam hiện có hơn 25.000 sản phẩm phân bón được cấp phép lưu hành. Số lượng lớn cùng sự đa dạng về chủng loại đặt ra yêu cầu cao đối với hoạt động kiểm tra, giám sát chất lượng.
Đáng lưu ý, quy trình lấy mẫu, gửi kiểm nghiệm và chờ kết quả thường kéo dài từ 15 - 30 ngày. Trong khoảng thời gian này, nếu không có biện pháp kiểm soát phù hợp, các lô hàng nghi vấn có nguy cơ tiếp tục được tiêu thụ hoặc bị tẩu tán, gây khó khăn cho việc xử lý vi phạm.
Ông Trương Hợp Tác cũng lưu ý, lấy mẫu là khâu quyết định độ tin cậy của kết quả phân tích. Đối với những loại phân bón có thành phần không đồng nhất, nếu kỹ thuật lấy mẫu không bảo đảm, kết quả kiểm nghiệm có thể sai lệch tới 20 - 30%. Vì vậy, việc nhận diện sản phẩm, lấy mẫu, bảo quản, niêm phong và phân tích cần tuân thủ nghiêm các quy trình kỹ thuật.
Như vậy, bên cạnh việc nâng cao năng lực kiểm tra, giám sát, bảo đảm tính chính xác của kết quả kiểm nghiệm và kiểm soát các lô hàng nghi vấn trong thời gian chờ kết quả là những yêu cầu quan trọng. Nếu các khâu này không được thực hiện đồng bộ, hiệu quả phát hiện và xử lý vi phạm có thể bị ảnh hưởng.

Từ thực tế đó, TS. Nguyễn Trí Ngọc, Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Phân bón Việt Nam, cho rằng công tác phòng, chống phân bón giả cần sự phối hợp đồng bộ, thường xuyên giữa Nhà nước, Hiệp hội và doanh nghiệp. Theo ông, cơ quan quản lý có trách nhiệm hoàn thiện chính sách và thực thi pháp luật; lực lượng chức năng kiểm tra, xử lý; doanh nghiệp bảo vệ thương hiệu, cung cấp thông tin; Hiệp hội làm cầu nối và tổng hợp kiến nghị.
Việc xác định rõ trách nhiệm của từng chủ thể không chỉ giúp nâng cao hiệu quả quản lý mà còn tạo điều kiện để thông tin về sản phẩm nghi vấn, hành vi vi phạm và dấu hiệu giả mạo được tiếp nhận, xử lý kịp thời hơn.
Từ góc độ doanh nghiệp, ông Nguyễn Văn Luyện, Phó Tổng giám đốc Tập đoàn Hóa chất Việt Nam, cho rằng phân bón giả không chỉ làm suy giảm doanh thu mà còn khiến doanh nghiệp phải tăng chi phí đầu tư công nghệ chống giả, truy xuất nguồn gốc và bảo vệ thương hiệu.

Theo ông, dù các quy định pháp luật về quản lý phân bón đã từng bước được hoàn thiện, mức xử lý đối với một số hành vi vi phạm vẫn chưa tương xứng với hậu quả gây ra. Vì vậy, cần tiếp tục rà soát, hoàn thiện chế tài, đồng thời tăng cường hậu kiểm đột xuất đối với những cơ sở có dấu hiệu vi phạm hoặc nhận được phản ánh từ người dân, doanh nghiệp.
Một vấn đề khác được ông Luyện nhấn mạnh là quản lý hoạt động kinh doanh phân bón trên môi trường thương mại điện tử và mạng xã hội. Việc kiểm soát cần gắn với trách nhiệm của các nền tảng số trong ngăn chặn hoạt động kinh doanh hàng giả, hàng không rõ nguồn gốc.
Ở góc độ ứng dụng công nghệ, Tập đoàn Hóa chất Việt Nam đã triển khai sàn thương mại điện tử VinachemMart nhằm cung cấp sản phẩm chính hãng của các đơn vị thành viên, đồng thời phát triển nền tảng Vinachem Nông nghiệp để hỗ trợ thông tin sản phẩm, hướng dẫn nhận biết phân bón và tư vấn kỹ thuật canh tác.
Các nền tảng này được doanh nghiệp phát triển nhằm hỗ trợ người sử dụng tiếp cận thông tin và sản phẩm chính hãng. Tuy nhiên, để công nghệ phát huy hiệu quả trong phòng, chống hàng giả, việc cung cấp thông tin cần đi cùng cơ chế xác thực nguồn gốc, phối hợp xử lý phản ánh và kiểm soát hoạt động phân phối.
Về phía cơ quan quản lý, đại diện Cục Quản lý và Phát triển thị trường trong nước kiến nghị rà soát, sửa đổi các quy định liên quan đến thẩm quyền, chế tài xử phạt và kiểm tra chất lượng phân bón. Đồng thời, đề xuất Bộ Nông nghiệp và Môi trường sớm xây dựng hệ thống cơ sở dữ liệu về phân bón, vật tư nông nghiệp, phục vụ chia sẻ thông tin, giám sát và cảnh báo vi phạm.
Đại diện Ban Chỉ đạo 389 Quốc gia đề xuất xây dựng cơ chế cảnh báo nhanh để các địa phương kịp thời kiểm tra, ngăn chặn việc tiếp tục lưu thông khi phát hiện phân bón giả hoặc sản phẩm không bảo đảm chất lượng. Cùng với đó là tăng cường phối hợp giữa các lực lượng chức năng nhằm phát hiện, xử lý những đường dây vi phạm có tổ chức.
Các đề xuất trên tập trung vào ba yêu cầu: hoàn thiện quy định và chế tài; nâng cao hiệu quả kiểm tra, hậu kiểm; tăng cường chia sẻ dữ liệu và phối hợp xử lý vi phạm. Đây là những khâu có mối liên hệ chặt chẽ, bởi phát hiện vi phạm chỉ là bước đầu, còn ngăn chặn hàng hóa tiếp tục lưu thông và xử lý đến cùng các hành vi vi phạm mới góp phần hạn chế thiệt hại cho thị trường.
Bên cạnh trách nhiệm của cơ quan quản lý và lực lượng chức năng, sự chủ động của doanh nghiệp được xác định là một yếu tố quan trọng trong cuộc đấu tranh chống phân bón giả.

Ông Nguyễn Hồng Phong, Phó Chủ tịch Hiệp hội Phân bón Việt Nam, Tổng Giám đốc Công ty Cổ phần Công Nông nghiệp Tiến Nông, nhấn mạnh trách nhiệm chủ động đấu tranh, bảo vệ mình của các doanh nghiệp chân chính. Ông đồng thời đề xuất phát huy vai trò đầu mối của Hiệp hội trong tập hợp thông tin, hỗ trợ pháp lý và phối hợp với các cơ quan chức năng xử lý vi phạm.
“Các doanh nghiệp chân chính phải tự đấu tranh để bảo vệ chính mình”, ông Nguyễn Hồng Phong khẳng định.
Theo ông Nguyễn Hồng Phong, muốn làm sạch thị trường phân bón cần có sự phối hợp đồng bộ giữa Nhà nước – Hiệp hội – Doanh nghiệp, phân định rõ trách nhiệm trong xử lý vi phạm về chất lượng, nhãn mác và thương hiệu. Không chỉ dừng lại ở việc phản ánh, kiến nghị, các bên cần hành động quyết liệt, thực chất để đẩy lùi phân bón giả, phân bón kém chất lượng.
Từ yêu cầu này, Hiệp hội Phân bón Việt Nam xác định cơ quan quản lý giữ vai trò xây dựng và thực thi chính sách; lực lượng chức năng kiểm tra, xử lý vi phạm; doanh nghiệp chủ động cung cấp thông tin, bảo vệ thương hiệu; Hiệp hội làm cầu nối, tổng hợp kiến nghị từ thực tiễn.
Phòng, chống phân bón giả vì vậy cần sự phối hợp thường xuyên giữa các chủ thể, từ quản lý chất lượng, kiểm tra và xử lý vi phạm đến cung cấp thông tin, bảo vệ thương hiệu. Đây là những yếu tố quan trọng nhằm hạn chế tác động của phân bón giả đối với người nông dân, doanh nghiệp chân chính và sự phát triển chung của ngành phân bón Việt Nam.