hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
Nhập email của bạn để lấy lại mật khẩu
Thời điểm Việt Nam tham gia ASEAN đến trước khi gia nhập WTO năm 2005, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam chỉ xấp xỉ 69 tỷ USD; tổng đầu tư nước ngoài từ đổi mới, mở của kinh tế 1986 đến 2005 vào khoảng 72 tỷ USD.
Xong đến năm 2022, kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam đã vượt trên 730 tỷ USD, tổng đầu tư nước ngoài riêng trong hai năm 2006 - 2007 đã vượt trên 94 tỷ USD vượt 125% so với cả giai đoạn 1986 - 2005 và đến năm nay đã đạt xấp xỉ 400 tỷ USD. Đó là những con số ấn tượng nói lên hiệu quả to lớn của Hội nhập kinh tế quốc tế mang lại cho đất nước. Nhân dịp này tạp chí Doanh nghiệp & Đầu tư đã có cuộc phỏng vấn ông Đặng Ngọc Minh – Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế để hiểu rõ hơn về những thành tựu này.
Thủ tướng Chính phủ Phạm Minh Chính đã trao tặng Huân chương Lao động Hạng Nhất của Chủ tịch nước cho Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Thuế
Đặng Ngọc Minh
PV: Là thành viên đầu tiên của Việt Nam được bổ nhiệm làm UV thường trực UB thuế Quốc tế của Liên hợp quốc nhiệm kỳ (2017 – 2021,)ông đã có những hoạt động gì để hoàn thành nhiệm vụ trong UB và đem lại lợi ích cho cơ quan thuế VN nói riêng, kinh tế VN nói chung?
Ông Đặng Ngọc Minh: Ủy ban chuyên gia hợp tác quốc tế về các vấn đề thuế là một tổ chức chuyên môn trực thuộc Hội đồng Kinh Tế Xã Hội của Liên Hợp Quốc (ECOSOC) được thành lập theo Nghị quyết 2004/69 của ECOSOC với các thành viên tham gia Ban công tác là các chuyên gia được các chính phủ đề cử và lựa chọn từ ngành thuế đại diện cho 10 nước PT và 15 nước ĐPT và các nước có nền kinh tế đang chuyển đổi, cân bằng từ các khu vực địa lý và hệ thống thuế khác nhau trên thế giới với mục tiêu nghiên cứu, phối hợp với các tổ chức quốc tế nhằm ban hành Hiệp định mẫu và thúc đẩy việc ký kết Hiệp định thuế giữa các nước tạo điều kiện cho dòng đầu tư quốc tế từ các nước PT sang các nước ĐPT. Theo nghị quyết 2004/69 ngày 4.11.2004 của Hội đồng Kinh tế Xã Hội của LHQ, Ủy ban chuyên gia liên chính phủ về hợp tác trên lĩnh vực thuế quốc tế có chức năng và nhiệm vụ chính sau đây:
• Thứ nhất là cập nhật, sửa đổi, bổ sung những nội dung cần thiết đối với Mẫu Hiệp Định Thuế của LHQ giữa các nước PT và ĐPT đồng thời bổ sung sửa đổi Tài liệu hướng dẫn đàm phán Hiệp định thuế cho các nước ĐPT;
• Thứ hai là tạo diễn đàn, cơ chế đối thoại nhằm tăng cường, thúc đẩy hợp tác trên lĩnh vực thuế quốc tế giữa các ngành thuế các nước;
• Thứ ba, nghiên cứu những vấn đề mới phát sinh từ thực tiễn ảnh hưởng đến hợp tác quốc tế về thuế, đánh giá tác động và đưa ra những kiến nghị, giải pháp cần thiết cho các nước đặc biệt là các nước ĐPT trên các chủ đề quản lý chuyển giá, hợp tác hành chính thuế và hỗ trợ truy thu thuế quốc tế, cơ chế và quy định chống lợi dụng Hiệp định thuế, mối quan hệ chính sách thuế với thương mại và đầu tư, chính sách thuế đối với dịch vụ tài chính và phát triển thị trường chứng khoán, chính sách thuế đối với nguồn vốn vay, lãi tiền vay, thuế đối với thương mại điện tử;
• Thứ tư, kiến nghị các cơ chế hợp tác phát triển nguồn nhân lực, phát triển năng lực, hỗ trợ kỹ thuật, đặc biệt chú trong các chương trình hỗ trợ cho các nước ĐPT và đang chuyển đổi thực hiện các nội dung trên.
Trong niên khóa 2017 - 2021, trên cơ sở các mục tiêu chung và nhiệm vụ được giao, 25 thành viên Ủy ban thuế quốc tế tiếp tục kế thừa những công việc đã và đang được triển khai từ nhiệm kỳ trước thông qua các công việc của các tiểu ban chuyên môn về Hiệp định thuế, thuế đối với vận tải quốc tế, chống chuyển giá, trao đổi thông tin quản lý thuế quốc tế, chính sách và quản lý thuế đối với ngành khai thác tại các nước ĐPT, chính sách thuế đối với dịch vụ qua biên giới và thương mại điện tử, phối hợp với OECD trong chương trình chống xói mòn nguồn thu và chuyển lợi nhuận (BEPS), cơ chế hợp tác với các định chế tài chính quốc tế như IMF, WB hỗ trợ cho các nước ĐPT nâng cao năng lực quản lý và hoạch định chính sách thuế phục vụ quá trình phát triển bền vững. Một nhiệm vụ quan trọng nữa là nghiên cứu cơ chế nâng cao hiệu quả xử lý tranh chấp thuế quốc tế giữa các nước đặc biệt giữa các nước ĐPT và PT trong đó Ủy ban thuế quốc tế có thể giữ một vai trò trung tâm trong tương lai, là nguồn chuyên gia, trọng tài quốc tế về thuế. Về thể chế, vấn đề thành lập một Ủy ban liên chính phủ tại LHQ về chính sách và quản lý thuế gồm đại diện ngành tài chính và các nhà quản lý thuế các nước cũng là một nội dung sẽ được Ủy ban nghiên cứu và kiến nghị lên Liên Hợp Quốc.
Việc đại diện Việt Nam ứng cử thành công vào vị trí thành viên UB thuế của Liên hợp quốc thể hiện ngành thuế Việt Nam đã chủ động hội nhập thuế quốc tế. Theo phân công của Bộ Tài Chính, Tổng Cục thuế đã phối hợp với Phái đoàn Thường trục Việt Nam tại LHQ và các Tổ chức quốc tế tại New York và Geneva từ những năm 2004, đặc biệt giai đoạn 2015 - 2016, cùng các nước ĐPT tích cực vận động, ủng hộ việc thành lập Ủy ban chuyên gia, cũng như tham dự các cuộc họp thường niên với tư cách thành viên của Liên Hợp Quốc. Và đến năm 2017 lần đầu tiên tôi được vinh dự đại diện Việt Nam, theo đề cử của Chính phủ, trúng cử và được Tổng Thư Ký LHQ bổ nhiệm chính thức là thành viên thường trực của Ủy ban chuyên gia thuế quốc tế nhiệm kỳ 2017 - 2021 đại diện cho khu vực Đông Nam Á cùng Singapore và Thái Lan. Trong những năm gần đây, với thành tựu từ sự nghiệp đổi mới kinh tế trong nước, chủ động hội nhập kinh tế khu vực và toàn cầu, Việt Nam đã trở thành một quốc gia có thu nhập trung bình, là một hình mẫu cải cách kinh tế và quản lý hành chính cho các nước ĐPT và đang chuyển đổi kinh tế. Với vị thế đó các tổ chức quốc tế gồm hệ thống LHQ mong muốn Việt Nam phát huy trách nhiệm quốc tế, tham gia sâu rộng vào các hoạt động hợp tác quốc tế nói chung và trong LHQ nói riêng, qua đó đóng góp kinh nghiệm thực tiễn, đại diện và thúc đẩy cho lợi ích của nhóm các nước ĐPT và đang chuyển đổi kinh tế trong các diễn đàn kinh tế, chính trị toàn cầu. Việt nam đã có một hệ thống Hiệp định tránh đánh thuế hai lần với trên 80 nước và vùng lãnh thổ, trong đó cơ bản tuân theo các qui định tại Hiệp định mẫu của LHQ. Việc có đại diện tham gia vào công việc trực tiếp xây dựng chính sách thuế quốc tế của Ủy ban sẽ là điều kiện tốt để Việt Nam đảm bảo các lợi ích riêng cũng như có cơ hội đưa ra và bảo vệ những chủ trương chính sách thuế phục vụ lợi ích của các nước đang phát triển trong khung khổ chính sách chung của LHQ. Năm 2019, tôi đã đề xuất với Ủy Ban để ngành thuế Việt Nam chủ trì thành công hội nghị tại Đà Nẵng của các nước về vấn đề thuế với hoạt động khai thác tài nguyên và dầu khí và bảo vệ môi trường và đây là sự kiện quảng bá cho hình ảnh ngành khai thác dầu khí của Việt Nam trên khu vực biển đông và các chính sách thuế áp dụng cho các nhà thầu hoạt động trong khu vực. Cuối năm 2019, với sự ủng hộ của thành viên Ủy ban thuế Liên Hiệp quốc, tôi đã đại diện Việt nam khẳng định quyền đánh thuế với hoạt động chuyển nhượng vốn của các tập đoàn đầu tư đa quốc gia, qua đó giành thắng lợi trong việc tranh chấp quốc tế trên lĩnh vực dầu khí. Vấn đề đánh thuế đối với dịch vụ qua biên giới hay thương mại điện tử, kinh tế số, là những vấn đề phát sinh gần đây cần phải có một cách tiếp cận hoàn toàn mới về quyền đánh thuế của các quốc gia, nhất là các nước đang tiếp nhận đầu tư và chuyển giao công nghệ. Trong năm 2020 và 2021 mặc dù đại dịch Covid-19 hoành hành toàn cầu nhưng tôi đã đại diện Việt Nam phối hợp với đại diện Ấn độ và Achentina chủ trương xây dựng và thành công đưa ra dự thảo và chính thức được Ủy ban thông qua bổ sung Điều 12B vào Hiệp định Mẫu của Liên Hiệp Quốc cho phép các nước ĐPT quyến đánh thuế tại nguồn đối với dịch vụ số xuyên biên giới làm tiền đề cho việc mở cổng kê khai thuế điện tử cho nhà cung cấp dịch vụ nước ngoài vào Việt Nam từ tháng 4/2022 vừa qua. Được sự ủng hộ của các chuyên gia trong nước và quốc tế, tôi đã đại diện Việt Nam hoàn thành nhiệm vụ Ủy viên thường trực Ủy ban thuế quốc tế trong nhiệm kỳ 2017 - 2021.
PV: Kỷ niệm 16 năm VN gia nhập WTO (2006 - 2022,)Việt Nam đã có những bước tiến dài trên con đường hội nhập kinh tế toàn cầu. Nền kinh tế Việt Nam liên tục có những bứt phá và đạt được nhiều thành tựu. Dấu ấn WTO đã được ghi nhận rõ nét trong việc đưa Việt Nam thành một nền kinh tế có độ mở 200% GDP và cải thiện cán cân thương mại hàng hóa chuyển từ nhập siêu sang xuất siêu từ 2006 - nay. Là 1 thành viên tích cực trong đoàn đàm phán gia nhập WTO, ông có cảm xúc gì trước những kết quả Đất nước đạt được. Ông có thể kể lại 1 vài tình huống đàm phán để lại cho ông nhiều ấn tượng?
Ông Đặng Ngọc Minh: Thời điểm Việt Nam tham gia ASEAN đến trước khi gia nhập WTO năm 2005, tổng kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam chỉ xấp xỉ 69 tỷ USD; tổng đầu tư nước ngoài từ đổi mới, mở của kinh tế 1986 đến 2005 vào khoảng 72 tỷ USD. Xong đến nay 2022 kim ngạch xuất nhập khẩu của Việt Nam đã vượt trên 730 tỷ USD, tổng đầu tư nước ngoài riêng trong hai năm 2006 - 2007 đã vượt trên 94 tỷ USD vượt 125% so với cả giai đoạn 1986 - 2005 và đến năm nay đã đạt xấp xỉ 400 tỷ USD. Đó là những con số ấn tượng nói lên hiệu quả to lớn của Hội nhập kinh tế quốc tế mang lại cho đất nước và chúng tôi là những thành viên Đoàn Đàm phán Chính phủ cảm thấy rất vinh dự và tự hào được góp một phần nhỏ vào tiến trình mở đường cho đất nước hội nhập.
Năm 1995, ngay sau khi gia nhập ASEAN, Việt Nam đã nộp đơn xin gia nhập WTO, xong đến thời điểm lần đầu tiên tôi được tham gian đoàn đàm phán WTO vào tháng 3 năm 2002, sau gần 7 năm WTO mới chỉ tổ chức được 3, 4 phiên họp ngắn của Ban Công Tác, và để đến khi gia nhập chính thức cuối 2006 đầu 2007 chúng ta đã phải thúc đẩy hàng trăm phiên đàm phán song phương và tổ chức xấp xỉ 15 phiên họp chính thức của Ban Công Tác xem xét hồ sơ gia nhập WTO của Việt Nam. Qua đó để thấy khối lượng công việc khổng lồ của Chính phủ, các Bộ, ngành, Đoàn đàm phán chính phủ phải thực hiện cho việc gia nhập của Việt Nam trong giai đoạn 5 năm cuối quyết định.
Nhớ lại giai đoạn đàm phán con thoi, sôi nổi của Đoàn đàm phán chính phủ, tôi không thể quên được những sự kiện mang tính bước ngoặt và quyết định. Có thể nhắc đến việc tháng 7.2004, Phái đoàn ngoại giao Việt Nam tại Geneva đã vận động thành công Cuba là thành viên đầu tiên ký kết biên bản chấp nhận cam kết cắt giảm thuế quan, mở cửa thị trường hàng hóa thiết bị y tế và dược phẩm, và từ đó mở ra tiền lệ cho một loạt các nước ĐPT, đặc biệt các nước từ khu vực Mỹ La Tinh lần lượt ủng hộ Việt Nam sớm gia nhập WTO. Hay ngay thời điểm khó khăn trung tuần tháng 5.2006 khi Đoàn đàm phán chính phủ tổ chức hội đàm toàn diện tại Washington DC với Hoa kỳ về cam kết gia nhập của Việt Nam, khi hai bên bế tắc tưởng như không thể vượt qua những vấn đề khó khăn như mở của thị trường dệt may, dịch vụ tài chính, ngân hàng, dịch vụ vận tải, qui định về hoạt động công đoàn, thì đến 19h30 ngày 13.5, tôi và tổ công tác đàm phán thuế xuất khẩu đạt được sự đồng thuận từ phía Hoa kỳ thu hẹp diện yêu cầu Việt Nam bỏ thuế xuất khẩu từ hàng trăm mặt hàng xuống còn vài mặt hàng không thiết yếu như phế liệu kim loại; với động thái đó đại diện Bộ Tài Chính kịp thời đánh giá và báo cáo trưởng đoàn đàm phán về động thái và khả năng Hoa kỳ có tín hiệu muốn kết thúc đàm phán đợt này và lãnh đạo đoàn đã kịp thời tập trung chỉ đạo toàn đoàn, các tổ công tác dồn mọi nỗ lực để có thể kết thúc đàm phán và cuối cùng đến 1h30 sáng 14.5 Việt Nam và Hoa Kỳ đã đạt được thỏa thuận lịch sử, rộng đường cho Ban Công Tác WTO kết thúc thủ tục gia nhập của Việt Nam vào tháng 10 cùng năm.
PV: Kinh tế VN ngày càng hội nhập sâu rộng với nền kinh tế Thế giới, bên cạnh những thuận lợi đi kèm khó khăn, thách thức đến từ sự thay đổi mạnh mẽ, phức tạp về tất cả các lĩnh vực đời sống Thế giới. Là lãnh đạo ngành thuế, bản thân ông nói riêng, ngành thuế nói chung đã có những giải pháp gì để hoàn thành tốt nhiệm vụ tài chính - NSNN đồng thời hỗ trợ doanh nghiệp và người dân, góp phần thúc đẩy phục hồi phát triển kinh tế,đảm bảo an sinh xã hội?
Ông Đặng Ngọc Minh: Năm 1995, Việt Nam là thành viên ASEAN tham gia chương trình cắt giảm thuế quan CEPT, năm 2000 Việt Nam ký hiệp định thương mại, bình thường hóa quan hệ kinh tế, thương mại, đầu tư với Hoa kỳ, năm 2006 Việt Nam là thành viên Tổ chức Thương Mại Thế Giới WTO sau đó liên tục tham gia các Hiệp định thương mại, đầu tự do thế hệ mới, cấp độ cao với EU, Hiệp định đối tác xuyên Thái Bình Dương. Đến nay, Việt nam đã và đang là nền kinh tế mở toàn diện với thế giới và khu vực. Đồng hành với tiến trình đó, từ 1992 đế nay ngành thuế Việt Nam đã ký 83 Hiệp định thuế với các nước và đã là Thành Viên thứ 100 của chương trình hợp tác chính sách và quản lý thuế quốc tế - BEPS từ tháng 7 năm 2017 và gần nhất ký Hiệp đinh đa phương sửa đổi tổng thể hệ thống Hiệp định DTA vào tháng 2 năm 2022.
Năm 2006, khi gia nhập WTO qui mô thu ngân sách mới đạt con số 279,4 ngàn tỷ trong đó thu từ khu vực đầu tư nước ngoài chiếm 9,3% tương đương 26,8 ngàn tỷ đồng. Đến 2020, nền kinh tế đã mang lại nguồn thu lên đến 1.607,8 ngàn tỷ đồng trong đó khu vực đầu tư nước ngoài đã đóng góp lên đến 208 ngàn tỷ chiếm 13,7% tổng thu NSNN. Trước những thách thức toàn cầu từ đại dịch Covid-19 từ 2019, xung đột vũ trang khu vực Châu Âu dẫn đến gia tăng giá năng lượng, nguyên, nhiên liệu, đứt gãy chuỗi cung ứng toàn cầu làm suy giảm thương mại toàn cầu, gia tăng áp lực lạm phát, tỷ giá trong nước, giảm sức cạnh tranh, xuất khẩu của nền kinh tế, cộng với những vấn đề tồn tại của nền kinh tế như thị trường bất động sản, thị trường trái phiếu doanh nghiệp, chứng khoán, rủi ro hệ thống tín dụng, gia tăng lãi suất ảnh hưởng đến sản xuất kinh doanh, ngành thuế đã và đang tham mưu cho Bộ Tài Chính, Chính Phủ những giải pháp đột phá, cụ thể về tài khóa hỗ trợ trực tiếp cho người dân và doanh nghiệp như miễn giảm, giãn, hoãn nghĩa vụ nộp ngân sách lên đến trên 200 ngàn tỷ đồng trong năm, tạo nguồn lực tài chính thiết thực, trực tiếp cho người nộp thuế duy trì, phục hồi hoạt động sản xuất kinh doanh. Cùng đó, ngành thuế liên tục tiến hành cải cách hiện đại hóa, tạo thuận lợi cho người nộp thuế, cắt giảm chi phí thủ tục hành chính, chi phí tuân thủ, có thể kể đến các chương trình hóa đơn điện tử, dịch vụ điện tử trực tuyến hỗ trợ đăng ký, kê khai, nộp thuế, hoàn thuế, 24/7 và trên mọi nền tảng, thiết bị thông minh … Trong nền kinh tế số, ngành thuế đã và đang đi đầu trong ứng dụng công nghệ mới cho công tác quản lý hiện đại như điện toán đám mây, công nghệ AI, máy học, phân tích dữ liệu lớn nhằm nâng cao hiệu lực hiệu quả công tác quản lý thuế, tăng cường hợp tác quốc tế, trao đổi thông tin trong quản lý hoạt động thương mại điện tử, dịch vụ kinh tế số trong nước và xuyên biên giới, chống chuyển giá, chuyển lợi nhuận để tránh, trốn thuế toàn cầu, khẳng định chủ quyền điều tiết ngân sách, khai thác các nguồn thu tiềm năng trong môi trường kinh tế chuyển đổi từ cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4. Với kết quả thu ngân sách ước trên 1.460 ngàn tỷ năm 2022, với những giải pháp đồng bộ cho công tác thuế năm 2023, Ngành thuế hoàn toàn tin tưởng có thể hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ chính trị thu NSNN của ngành, tạo thuận lợi, góp phần thúc đẩy sản xuất, đảm bảo nguồn lực cho an sinh xã hội và phát triển kinh tế./.