Thứ ba, 24/06/2025 21:10 (GMT+7)

Ngành lâm nghiệp và chế biến gỗ Việt Nam hướng tới phát triển bền vững, chinh phục thị trường toàn cầu

Minh Anh

Việc đạt mục tiêu 16 tỷ USD xuất khẩu năm 2025, đòi hỏi sự chung tay của chính quyền, doanh nghiệp và các bộ ngành trong việc cải thiện thể chế, phát triển vùng nguyên liệu, đầu tư công nghệ chế biến hiện đại và đặc biệt là tăng cường minh bạch chuỗi cung ứng.

 

Trong bối cảnh toàn cầu đang ngày càng siết chặt các yêu cầu về truy xuất nguồn gốc, tính hợp pháp và bền vững đối với sản phẩm gỗ, ngành lâm nghiệp và chế biến gỗ Việt Nam đã và đang không ngừng cải thiện hệ thống pháp lý, nâng cấp chuỗi cung ứng, đổi mới tư duy thị trường và kỹ thuật sản xuất nhằm không chỉ duy trì tốc độ tăng trưởng xuất khẩu ấn tượng mà còn khẳng định vị thế là một trung tâm chế biến, xuất khẩu gỗ hàng đầu thế giới, với định hướng phát triển bền vững và minh bạch toàn diện.

 

Ảnh minh hoạ. Nguồn: IT
Ảnh minh hoạ. Nguồn: IT

 

Xuất khẩu lập kỷ lục

 

Năm 2024, xuất khẩu gỗ và sản phẩm gỗ của Việt Nam đạt trị giá 16,25 tỷ USD, tăng 20,3% so với năm trước, vượt kỷ lục cũ được xác lập năm 2022 và tiến gần đến mục tiêu 18 tỷ USD trong năm 2025, trong đó giá trị xuất khẩu sản phẩm gỗ chiếm khoảng 11,2 tỷ USD. Bên cạnh đó, lâm sản ngoài gỗ đóng góp thêm 1,04 tỷ USD, nâng tổng kim ngạch toàn ngành lên gần 17,3 tỷ USD, cho thấy quy mô và sức bền của lĩnh vực này dù phải đối mặt với hàng loạt thách thức từ biến động kinh tế toàn cầu đến rào cản kỹ thuật ngày càng gắt gao từ các thị trường phát triển.

 

Hoa Kỳ tiếp tục giữ vững vị trí là thị trường lớn nhất, chiếm tới 55% tổng lượng xuất khẩu, với kim ngạch năm 2024 đạt 9 tỷ USD, tăng 24% so với năm 2023; tiếp theo là Trung Quốc, Nhật Bản, Hàn Quốc và EU là những thị trường yêu cầu cao về tính minh bạch, an toàn và trách nhiệm môi trường, đặt ra áp lực không nhỏ buộc các doanh nghiệp gỗ Việt Nam phải liên tục thích nghi, nâng cấp quy trình, cải tiến sản phẩm và kiểm soát chặt nguồn nguyên liệu.

 

Trong tọa đàm thương mại gỗ Việt Nam – Hoa Kỳ do Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm (Bộ Nông nghiệp và Môi trường) tổ chức, ông Ngô Sỹ Hoài – Phó Chủ tịch kiêm Tổng Thư ký Hiệp hội Gỗ và Lâm sản Việt Nam (VIFOREST) đã chỉ rõ, các quy định khắt khe của Đạo luật Lacey, cơ chế tự chứng nhận xuất xứ và yêu cầu về trách nhiệm giải trình đã khiến ngành gỗ Việt Nam phải đẩy nhanh tốc độ minh bạch hóa chuỗi cung ứng, trong đó việc kiểm soát nguồn gốc hợp pháp trở thành yếu tố then chốt trong tiếp cận thị trường và duy trì niềm tin từ đối tác quốc tế.

 

Ông Ngô Sỹ Hoài nhận định, Việt Nam đã nỗ lực rất lớn để vượt qua những lo ngại về tính hợp pháp và bền vững của gỗ và sản phẩm gỗ, đồng thời nhấn mạnh rằng thương mại gỗ Việt – Mỹ không chỉ đóng góp lớn về giá trị mà còn mang lại nhiều lợi ích bổ sung, từ việc gia tăng lựa chọn cho người tiêu dùng Hoa Kỳ đến sự phối hợp hiệu quả trong giải quyết các tranh chấp thương mại, như vụ điều tra theo mục 301 của Hoa Kỳ đã được xử lý thành công, tạo tiền đề cho hợp tác lâu dài, ổn định.

 

Ở chiều ngược lại, Việt Nam cũng là một trong những nước nhập khẩu lớn gỗ xẻ, gỗ tròn và veneer từ Hoa Kỳ, với kim ngạch nhập khẩu năm 2024 đạt hơn 316 triệu USD, chiếm hơn 11% tổng lượng nhập khẩu toàn ngành, cho thấy mối quan hệ hai chiều cân bằng và bổ sung.

 

Hướng đến phát triển rừng trồng bền vững

 

Một trong những thay đổi mang tính chiến lược của ngành lâm nghiệp Việt Nam là từ năm 2014 đã cấm tuyệt đối khai thác rừng tự nhiên, chuyển toàn bộ sang phát triển rừng trồng thương mại và nguồn nguyên liệu hợp pháp. Hiện nay, Việt Nam có khoảng 3 triệu ha rừng trồng chủ yếu là keo và bạch đàn cùng với 1 triệu ha cây cao su; trong đó, khoảng 700.000 ha rừng trồng đã được cấp chứng chỉ FSC hoặc PEFC-VFCS và đặt mục tiêu đến năm 2030 có 70% diện tích rừng trồng thương mại được chứng chỉ hóa.

 

Nguồn: IT
Nguồn: IT

 

Đặc biệt, hệ thống đảm bảo hợp pháp gỗ Việt Nam (VNTLAS) được thiết lập trên cơ sở Hiệp định VPA/FLEGT ký kết với EU, đã được ban hành năm 2020 và điều chỉnh năm 2024, là nền tảng quan trọng trong việc cấp phép, kiểm tra nguồn gốc, phân loại doanh nghiệp, xác thực truy xuất và góp phần khẳng định với thế giới rằng Việt Nam không sử dụng gỗ tự nhiên nội địa cho xuất khẩu, tất cả sản phẩm gỗ đều đến từ rừng trồng hợp pháp hoặc các nguồn nhập khẩu tích cực.

 

Ông Trần Quang Bảo, Cục trưởng Cục Lâm nghiệp và Kiểm lâm, cho biết, Việt Nam là một quốc gia nhiệt đới nhưng đã đóng cửa rừng tự nhiên, không sử dụng nguyên liệu gỗ từ rừng tự nhiên cho xuất khẩu và hoàn toàn minh bạch trong chuỗi cung ứng, hệ thống hợp pháp. Bên cạnh đó, Việt Nam đang chủ động chuẩn bị đáp ứng Quy định chống phá rừng của EU (EUDR) và các yêu cầu mới về Carbon Border Adjustment Mechanism (CBAM), bằng việc cấp mã số vùng trồng rừng, triển khai đo đếm hấp thụ carbon và thẩm định rừng, hướng tới xây dựng thương hiệu gỗ xanh, bền vững, truy xuất được.

 

Việc đạt mục tiêu 16 tỷ USD xuất khẩu năm 2025, đòi hỏi sự chung tay của chính quyền, doanh nghiệp và các bộ ngành trong việc cải thiện thể chế, phát triển vùng nguyên liệu, đầu tư công nghệ chế biến hiện đại và đặc biệt là tăng cường minh bạch chuỗi cung ứng.

 

Tại Bình Định, hơn 300 doanh nghiệp gỗ đã đạt kim ngạch xuất khẩu 1,71 tỷ USD trong năm 2024 và đặt mục tiêu 1,8 tỷ USD trong năm 2025, thể hiện tiềm lực mạnh mẽ và quyết tâm chuyển đổi mạnh mẽ trong sản xuất, số hóa quản trị và mở rộng thị trường.

 

Tuy nhiên, ngành gỗ cũng phải đối mặt với loạt rào cản: chi phí logistics tăng cao, rào cản kỹ thuật khắt khe, yêu cầu chứng chỉ FSC, giám sát nguồn gốc theo GPS hoặc vùng địa lý, cùng với sự cạnh tranh gay gắt từ Trung Quốc, Indonesia, Thái Lan… Do đó, cần có các chính sách tín dụng ưu đãi, hỗ trợ xúc tiến thương mại và thương mại điện tử, đặc biệt là thông qua các nền tảng như Alibaba, Amazon, bên cạnh các hội chợ truyền thống.

 

Ông Tô Xuân Phúc - Giám đốc điều hành Chương trình Chính sách thương mại tài chính lâm nghiệp, Tổ chức Forest Trends cho rằng, để hiểu đúng về ngành hàng chế biến gỗ, các đơn vị liên quan cần cung cấp thông tin để hiểu rõ về ngành gỗ có vai trò cực kỳ quan trọng để giảm rủi ro và mở rộng thị trường. Cơ quan quản lý và hiệp hội ngành hàng cần chủ động tiếp cận và cung cấp thông tin, tăng cường đối thoại, trao đổi thông tin với thị trường xuất khẩu và các tổ chức môi trường, trực tiếp tham gia làm thành viên của các hiệp hội quốc tế.