hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
Nhập email của bạn để lấy lại mật khẩu
Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam (TKV) vừa công bố thông tin định kỳ về tình hình tài chính năm 2023. Theo đó, lợi nhuận của công ty giảm mạnh so với năm 2022.
Cụ thể năm 2023 TKV ghi nhận lợi nhuận sau thuế đạt 6.329 tỷ đồng, giảm 26% so với năm trước – tương ứng giảm hơn 2.200 tỷ đồng.
Kết quả kinh doanh sụt giảm, khiến tỷ suất lợi nhuận sau thuế/vốn chủ sở hữu (ROE) năm 2023 là 12,96%, giảm mạnh so với con số 18,36% đã đạt được ở năm 2022.
Về sức khỏe tài chính, tính đến thời điểm 31/12/2023, vốn chủ sở hữu của TKV là 48.818 tỷ đồng, tăng 4,8% so với hồi đầu năm. Hệ số nợ phải trả/vốn chủ sở hữu là 1,34 lần, tương ứng dư nợ phải trả của doanh nghiệp là 65.416 tỷ đồng - giảm gần 9.600 tỷ đồng so với hồi đầu năm. Trong đó, dư nợ trái phiếu là 4.000 tỷ đồng.
Theo HNX, hiện TKV có 2 lô trái phiếu đang lưu hành, gồm mã trái phiếu TKV5Y.2019 phát hành ngày 6/12/2019 (lãi suất phát hành là 9,55%/năm) và TKV_BOND2020 phát hành ngày 25/12/2020 (lãi suất phát hành là 8,2%/năm).
Cả 2 lô trái phiếu đều có kỳ hạn 5 năm. Mệnh giá phát hành mỗi lô là 2.000 tỷ đồng.
Như vậy, 2 lô trái phiếu kể trên sẽ lần lượt đến kỳ đáo hạn vào cuối năm nay và cuối năm 2025.
Tính đến cuối năm 2023, tổng nguồn vốn của TKV ước đạt 114.234 tỷ đồng, vốn điều lệ của doanh nghiệp là 35.000 tỷ đồng.
Với 100% vốn sở hữu của Nhà nước, TKV được giao nhiệm vụ chính là quản lý, tổ chức sản xuất và tiêu thụ sản phẩm than, phục vụ nhu cầu phát triển các ngành kinh tế trong nước như, cung cấp than cho sản xuất điện, hóa chất, nông nghiệp…
Ngoài ra, TKV còn tham gia thị trường xuất khẩu than thế giới, chào bán những loại than có nhiệt lượng cao mà các ngành sản xuất trong nước chưa có nhu cầu, đồng thời tích cực đầu tư, đổi mới công nghệ, sử dụng các công nghệ khai thác, chế biến than hiện đại, năng suất cao, tiết kiệm năng lượng...Trên nền sản xuất than, Vinacomin đã mạnh dạn sử dụng nguồn nhân lực sẵn có đầu tư các ngành công nghiệp khác như: Khoáng sản – luyện kim; cơ khí chế tạo lắp ráp xe tải; xây dựng các nhà máy nhiệt điện… và các ngành nghề khác.
Các dự án nguồn điện thuộc TKV đã đưa vào vận hành gồm: Nhiệt điện Na Dương, Nhiệt điện Cao Ngạn, Nhiệt điện Sơn Động và Nhiệt điện Đông Triều với tổng công suất lắp đặt là 1.550 MW. TKV cũng đang tiếp tục đầu tư Dự án Nhiệt điện Nông Sơn với công suất 30 MW đưa vào vận hành vào cuối năm 2014 và Nhà máy Thuỷ điện Đồng Nai 5 công suất 150 MW dự kiến đưa vào vận hành vào cuối năm 2015.
Ngoài ra TKV đang cũng đầu tư các dự án điện khác như: Dự án Nhiệt điện Na Dương 2 công suất 110 MW dự kiến đưa vào vận hành vào năm 2018; Nhiệt điện Cẩm Phả 3 công suất 440 MW đưa vào vận hành năm 2019; Nhiệt điện Hải Phòng với tổng công suất 2.400 MW đưa vào vận hành năm 2021- 2025; Nhiệt điện Quỳnh Lập 1 công suất 1.200 MW đưa vào vận hành năm 2020. Như vậy tính đến năm 2025 tổng công suất nguồn của TKV tham gia vào hệ thống điện quốc gia sẽ là 5.870 MW. Các dự án điện TKV đầu tư dưới dạng liên kết với EVN gồm: Nhiệt điện Quảng Ninh, Nhiệt điện Hải Phòng, Vĩnh Tân 2.
Cùng với việc hợp tác đầu tư xây dựng các dự án nguồn điện, TKV còn hợp tác với EVN trong những hợp đồng mua bán điện thông qua các đại diện là Tổng công ty Điện lực Vinacomin và Tổng công ty Mua bán điện của EVN. Ngoài ra, TKV còn tham gia vận hành hệ thống điện và thị trường điện thông qua sự điều hành hệ thống điều độ quốc gia A0, điều độ miền Bắc A1 và Cục Điều tiết Điện lực.