hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
Nhập email của bạn để lấy lại mật khẩu
Tính đến cuối năm 2025, Việt Nam đã có hơn 1 triệu doanh nghiệp đang hoạt động, tạo nền tảng cho mục tiêu đạt 2 triệu doanh nghiệp vào năm 2030.
Báo cáo Kinh tế tư nhân 2025 do Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) công bố cho thấy khu vực kinh tế tư nhân đang tiếp tục mở rộng quy mô và đóng vai trò ngày càng quan trọng trong nền kinh tế. Tuy nhiên, đằng sau đà tăng trưởng về số lượng, cộng đồng doanh nghiệp vẫn phải đối mặt với nhiều “điểm nghẽn” kéo dài liên quan đến thị trường đầu ra, tiếp cận vốn, minh bạch chính sách và năng lực đổi mới sáng tạo.
Theo đánh giá của VCCI, nếu các rào cản này được tháo gỡ quyết liệt trong vòng 12 đến 18 tháng tới, khu vực kinh tế tư nhân sẽ có cơ hội bứt phá mạnh mẽ sau giai đoạn tích lũy nội lực.
Trong số các khó khăn hiện nay, thị trường đầu ra tiếp tục là thách thức lớn nhất với doanh nghiệp Việt Nam. Báo cáo cho biết có tới 60,2% doanh nghiệp gặp khó khăn trong tìm kiếm khách hàng, phản ánh sức cầu suy giảm ở cả thị trường nội địa lẫn xuất khẩu.
Tại nhiều ngành sản xuất như dệt may, tình trạng đơn hàng chững lại ở các thị trường trọng điểm khiến doanh nghiệp phải đối mặt với áp lực duy trì sản xuất, bảo đảm việc làm và cân đối dòng tiền. Khi sức mua yếu kéo dài, khả năng mở rộng đầu tư và đổi mới công nghệ cũng bị ảnh hưởng đáng kể.

Bên cạnh bài toán thị trường, tiếp cận vốn vẫn là rào cản lớn đối với khu vực tư nhân. Có tới 75,5% doanh nghiệp cho biết họ không thể vay vốn nếu thiếu tài sản bảo đảm. Tỷ lệ các khoản vay yêu cầu thế chấp tại Việt Nam lên tới 93,5%, cao hơn rất nhiều so với mức trung bình toàn cầu là 68,3%.
So với các quốc gia trong khu vực, yêu cầu thế chấp tại Việt Nam cũng ở mức cao hơn đáng kể. Trong khi Thái Lan ghi nhận tỷ lệ 55,8% và Malaysia là 33,4%, doanh nghiệp Việt Nam vẫn phụ thuộc lớn vào tài sản bảo đảm để tiếp cận tín dụng.
Không chỉ khó vay vốn, nhiều doanh nghiệp còn chịu áp lực vốn lưu động khi chu kỳ thanh toán kéo dài, đặc biệt trong các lĩnh vực xuất khẩu và gia công sản xuất.
Một vấn đề khác được cộng đồng doanh nghiệp đặc biệt quan tâm là tính minh bạch của môi trường kinh doanh. Theo báo cáo, khả năng dự báo chính sách của doanh nghiệp còn rất hạn chế khi chỉ khoảng 6% đến 8% doanh nghiệp có thể thường xuyên dự đoán được các thay đổi chính sách.
Đáng chú ý, có tới 51,9% doanh nghiệp phải dựa vào mạng xã hội để cập nhật thông tin về các dự thảo văn bản pháp luật. Điều này cho thấy khoảng cách lớn trong khả năng tiếp cận thông tin chính thức và tính ổn định của môi trường chính sách.
Cùng với đó, chi phí không chính thức tiếp tục là áp lực lớn. Khoảng 26% doanh nghiệp cho biết phải chi trả các khoản chi phí không chính thức trong quá trình xin giấy phép kinh doanh. Tỷ lệ này cao gần gấp ba lần mức trung bình khu vực là 9,5%.
Theo VCCI, các rào cản về vốn, thị trường và minh bạch chính sách đang tạo áp lực lớn lên khu vực doanh nghiệp tư nhân, đặc biệt là nhóm doanh nghiệp nhỏ và vừa vốn có năng lực chống chịu hạn chế.
Ngoài các khó khăn về thị trường và thể chế, năng lực đổi mới sáng tạo của doanh nghiệp Việt Nam cũng được đánh giá là còn khoảng cách khá xa so với khu vực.
Báo cáo cho thấy chỉ 8,8% doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sản phẩm hoặc dịch vụ. Tỷ lệ này thấp hơn đáng kể so với Malaysia ở mức 21,7%, Thái Lan 18,9% và mức trung bình khu vực Đông Á – Thái Bình Dương là 28,5%.

Con số trên phản ánh thực trạng khu vực tư nhân Việt Nam vẫn chủ yếu hoạt động theo mô hình gia công, phụ thuộc vào chi phí lao động và chưa tạo được lợi thế cạnh tranh dựa trên công nghệ hoặc sáng tạo.
Đối với khu vực hộ kinh doanh, khó khăn còn thể hiện rõ hơn khi có tới 81,5% hộ ghi nhận doanh thu sụt giảm trong năm qua. Đây là nhóm chịu tác động mạnh từ biến động sức mua và chi phí đầu vào tăng cao.
Nhằm đo lường thực chất hiệu quả hoạt động của khu vực tư nhân, năm 2025 VCCI lần đầu tiên công bố Chỉ số Hiệu quả Kinh tế tư nhân (BPI). Bộ chỉ số này gồm 23 tiêu chí đánh giá dựa trên hai nhóm yếu tố chính là sự phát triển của khu vực tư nhân và năng lực đổi mới sáng tạo.
Kết quả thí điểm BPI năm 2025 ghi nhận Hồ Chí Minh dẫn đầu với 5,67 điểm, tiếp theo là Hà Nội đạt 5,41 điểm và Quảng Ninh đạt 5,33 điểm. Trong khi đó, mức điểm trung vị toàn quốc là 4,20 điểm.
Song song với BPI, bộ chỉ số PCI 2.0 tiếp tục được sử dụng để đánh giá chất lượng điều hành kinh tế cấp tỉnh. Nhóm địa phương được đánh giá có môi trường kinh doanh nổi bật gồm Bắc Ninh, Đà Nẵng, Hải Phòng, Phú Thọ và Quảng Ninh.
Theo định hướng được VCCI đưa ra, để hiện thực hóa mục tiêu 2 triệu doanh nghiệp vào năm 2030, chính sách cần chuyển mạnh từ tư duy quản lý sang tư duy đồng hành cùng doanh nghiệp.
Các giải pháp không chỉ dừng lại ở cắt giảm thủ tục hành chính mà cần tập trung kiến tạo năng lực cạnh tranh, cải thiện khả năng tiếp cận vốn, nâng cao tính minh bạch và hỗ trợ doanh nghiệp đổi mới sáng tạo.
VCCI cũng cho rằng các bộ chỉ số PCI 2.0 và BPI sẽ trở thành công cụ tham chiếu quan trọng để doanh nghiệp đánh giá môi trường kinh doanh tại từng địa phương, đồng thời là cơ sở để các hiệp hội ngành nghề phản ánh tiếng nói doanh nghiệp và đề xuất hoàn thiện chính sách trong thời gian tới.