hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
Nhập email của bạn để lấy lại mật khẩu
Áp lực lạm phát đang tăng lên trong những tháng cuối năm khi giá năng lượng, chi phí vận tải và nguyên liệu nhập khẩu chịu tác động từ bất ổn địa chính trị. Trong nước, đầu tư công tăng tốc, nhu cầu xây dựng và tiêu dùng gia tăng cũng tạo thêm sức ép lên mặt bằng giá.
Chiều 4/9, Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng, Trưởng Ban Chỉ đạo điều hành giá, chủ trì cuộc họp đánh giá công tác quản lý, điều hành giá 8 tháng đầu năm và bàn giải pháp cho 4 tháng cuối năm 2026. Mục tiêu kiểm soát lạm phát bình quân năm ở mức 4,5-5% tiếp tục được đặt ra trong bối cảnh nhiều yếu tố khó dự báo.
Trong 8 tháng đầu năm, thị trường hàng hóa trong nước chịu tác động rõ từ nhu cầu tăng cao trong dịp Tết Nguyên đán và biến động của kinh tế thế giới. Tuy nhiên, nguồn cung hàng hóa cơ bản được bảo đảm, giá lương thực, thực phẩm biến động trong giới hạn phù hợp. Từ nửa cuối tháng 6, nguồn cung và giá xăng dầu ổn định hơn, góp phần hạ nhiệt một số nhóm hàng hóa, dịch vụ quan trọng, đặc biệt là giao thông.

Bốn tháng cuối năm được dự báo khó khăn hơn. Xung đột địa chính trị kéo dài có thể đẩy giá năng lượng, chi phí vận tải và nguyên liệu nhập khẩu tăng, tạo áp lực lên lạm phát nhập khẩu. Đây là rủi ro cần theo dõi sát bởi biến động từ thị trường quốc tế có thể nhanh chóng truyền vào chi phí sản xuất trong nước.
Ở trong nước, đầu tư công được đẩy mạnh cùng nhu cầu xây dựng tăng vào cuối năm sẽ kéo theo nhu cầu lớn về vật liệu xây dựng, máy móc, thiết bị và nguyên liệu đầu vào. Nếu nhu cầu tăng nhanh trong thời gian ngắn, chi phí sản xuất và mặt bằng giá có thể chịu thêm sức ép.
Bộ Tài chính cập nhật hai kịch bản lạm phát năm 2026, khoảng 4,5% và 5%. Ngân hàng Nhà nước dự báo lạm phát bình quân khoảng 4,5-5%, nằm trong miền mục tiêu 5% ± 0,5 điểm phần trăm. Các tổ chức quốc tế dự báo mức tăng 3,8-5,2%.
Kịch bản lạm phát ở mức 5% đặt ra yêu cầu điều hành thận trọng. Dư địa chính sách cần được sử dụng linh hoạt để hạn chế tác động của các cú sốc từ bên ngoài, đồng thời tránh tạo thêm áp lực từ tổng cầu trong nước.
Giá các hàng hóa, dịch vụ do Nhà nước quản lý cũng cần được tính toán về thời điểm và mức điều chỉnh. Điện, dịch vụ y tế, giáo dục và các dịch vụ công thiết yếu đều có tác động đến chi phí của người dân, doanh nghiệp và mặt bằng giá chung. Việc điều chỉnh cần bám sát mục tiêu kiểm soát lạm phát.
Ở chiều giảm áp lực, các chính sách giảm thuế, phí, lệ phí, chính sách tiền tệ chủ động và nguồn cung lương thực, thực phẩm ổn định tiếp tục là những yếu tố hỗ trợ.
Bộ Tài chính xác định 7 nhóm giải pháp chung cho những tháng còn lại của năm, trong đó tăng năng lực dự báo và cảnh báo sớm được đặt lên hàng đầu. Mục tiêu là phát hiện sớm các yếu tố có thể gây biến động giá để xây dựng phương án xử lý trước khi áp lực lan rộng.
Với chính sách tài khóa, yêu cầu là điều hành chặt chẽ, hiệu quả, tiết kiệm chi thường xuyên và ưu tiên đầu tư phát triển, an sinh xã hội. Giải ngân đầu tư công cần được phân bổ hợp lý theo tháng, quý, hạn chế dồn chi vào cuối năm. Cách điều hành này giúp giảm sức ép lên vật liệu xây dựng, lao động và mặt bằng giá.

Các chính sách miễn, giảm, gia hạn thuế, phí và lệ phí tiếp tục được triển khai phù hợp nhằm giảm chi phí đầu vào cho doanh nghiệp và hỗ trợ đời sống người dân.
Chính sách tiền tệ phải bám sát khả năng hấp thụ vốn của nền kinh tế. Ngân hàng Nhà nước được yêu cầu theo dõi lạm phát cơ bản, cung tiền, lãi suất, tỷ giá và dòng vốn quốc tế; điều hành tỷ giá linh hoạt để hạn chế lạm phát nhập khẩu. Tín dụng cần tập trung cho sản xuất, kinh doanh, xuất khẩu, nông nghiệp, công nghiệp chế biến - chế tạo và các động lực tăng trưởng mới.
Quản lý thị trường cũng phải được tăng cường. Bộ Công Thương theo dõi sát giá dầu thô, xăng dầu thành phẩm, khí hóa lỏng, than và các nguồn năng lượng chủ chốt; đồng thời điều hòa cung cầu hàng hóa thiết yếu. Bộ Nông nghiệp và Môi trường bám sát sản xuất, nguồn cung và giá lương thực, thực phẩm, chủ động phương án bảo đảm nguồn cung, tránh thiếu hàng cục bộ gây biến động giá.
Các địa phương có trách nhiệm triển khai chương trình bình ổn thị trường, tăng cường thanh tra, kiểm tra việc chấp hành pháp luật về giá và xử lý nghiêm hành vi đầu cơ, găm hàng, lợi dụng biến động thị trường để trục lợi.
Chuyển đổi số được đẩy mạnh trong quản lý giá. Hệ thống kê khai giá điện tử kết nối với Cơ sở dữ liệu quốc gia về giá sẽ phục vụ tổng hợp, phân tích, dự báo và điều hành. Cùng với đó, các cơ quan quản lý phải tăng cường truyền thông, minh bạch thông tin về giá và chính sách để ổn định kỳ vọng của thị trường, hạn chế tăng giá bất hợp lý.
Phó Thủ tướng Nguyễn Văn Thắng yêu cầu các bộ, ngành, địa phương tiếp tục nâng cao năng lực dự báo, theo dõi sát kinh tế thế giới, tình hình địa chính trị và nguy cơ gián đoạn chuỗi cung ứng để kịp thời xây dựng các kịch bản điều hành giá.
Bốn tháng cuối năm sẽ đặt công tác điều hành giá trước nhiều sức ép. Mục tiêu lạm phát 4,5-5% vẫn có cơ sở để thực hiện, song yêu cầu phản ứng chính sách phải nhanh và sát diễn biến thị trường. Kiểm soát chi tiêu, điều hành tiền tệ linh hoạt, bảo đảm nguồn cung, quản lý chặt thị trường và nâng cao cảnh báo sớm sẽ quyết định khả năng giữ ổn định mặt bằng giá, hỗ trợ sản xuất và bảo đảm đời sống người dân.