Chủ nhật, 01/06/2025 00:00 (GMT+7)

Khơi thông tiềm năng từ Nghị quyết 68: Câu chuyện nuôi cá lồng ở Hòn Mê

Lê Phượng - Mai Thảo

Từ mô hình nuôi trồng nhỏ lẻ dựa trên kinh nghiệm dân gian, nghề nuôi cá lồng ở khu vực đảo Hòn Mê (thị xã Nghi Sơn, Thanh Hóa) đang từng bước khẳng định hiệu quả, trở thành sinh kế đáng kể cho người dân ven biển. Tuy nhiên, rào cản lớn về thủ tục pháp lý, quy hoạch chồng chéo và khó tiếp cận nguồn vốn vẫn là những lực c

 

Tăng trưởng nhanh nhưng chưa vững

 

Trong bối cảnh đó, Nghị quyết số 68/NQ của Trung ương về phát triển kinh tế tư nhân không chỉ là kim chỉ nam về mặt chủ trương, mà cần được vận dụng như một "chìa khóa" mở lối, giúp người dân và doanh nghiệp mạnh dạn đầu tư vào nuôi biển gắn với bảo vệ chủ quyền, phát triển sinh kế và an sinh bền vững khu vực ven biển.

 

Mô hình nuôi cá lồng tại khu vực đảo Hòn Mê
Mô hình nuôi cá lồng tại khu vực đảo Hòn Mê

 

Không phải ngẫu nhiên mà trong vài năm trở lại đây, Hòn Mê được xem là một trong những vùng nuôi cá lồng triển vọng nhất ở Bắc Trung Bộ. Với điều kiện tự nhiên lý tưởng — nước biển sạch, sâu, ít sóng lớn — khu vực này thích hợp để nuôi các loài cá giá trị kinh tế cao như cá bớp, cá chim, cá mú. Nắm bắt tiềm năng đó, cuối năm 2022, anh Lê Đình Dũng, một cư dân phường Hải Bình, đã mạnh dạn đầu tư gần 12 tỷ đồng xây dựng hệ thống lồng nuôi tại khu vực đảo Mê.

 

Chỉ sau chưa đầy hai năm, mô hình này đã chứng minh hiệu quả rõ rệt. Năm 2024, anh thu hoạch 70 tấn cá chim, 120 tấn cá bớp, và dự kiến sẽ có thêm 45 tấn cá mú vào quý II/2025. Với mức giá bán dao động từ 120.000 – 170.000 đồng/kg, sau khi trừ chi phí, lợi nhuận ước đạt trên 4 tỷ đồng/năm. Mô hình không chỉ tạo việc làm ổn định cho 6 lao động địa phương, mà còn mở rộng sang sản xuất cá giống, hướng đến kết hợp nuôi trồng thủy sản với du lịch trải nghiệm biển đảo.

 

Ngoài anh Dũng, tại khu vực đảo Mê còn ghi nhận sự tham gia tích cực của nhiều hộ dân khác, trong đó anh Phạm Vinh là một trong những người tiên phong trong việc mở rộng quy mô nuôi trồng trên mặt nước. Với diện tích mặt nước nuôi trồng lên tới 2ha, sản lượng thu hoạch hàng năm của anh đạt khoảng 150 tấn cá thương phẩm, chủ yếu là các loài cá có giá trị kinh tế cao.

 

Chia sẻ về quá trình khởi nghiệp giữa biển khơi, anh Vinh cho biết, khó khăn lớn nhất trong nuôi biển là cần nguồn vốn lớn, nhưng lại không thể tiếp cận được các nguồn vay ưu đãi từ Chính phủ. Nguyên nhân chủ yếu là do hoạt động nuôi trồng còn mang tính tự phát, hệ thống lồng bè chưa thích ứng tốt với biến đổi khí hậu, trong khi dịch vụ hậu cần vẫn còn yếu kém.

 

Bên cạnh đó, việc sử dụng thức ăn tươi sống và thiếu khâu chế biến cũng dẫn đến tình trạng ô nhiễm môi trường và phát sinh dịch bệnh. Do đó, Anh Vinh tha thiết đề nghị Chính phủ và các ngành chức năng sớm cấp mặt nước tại vùng nuôi cho hợp tác xã và các hộ dân, qua đó tạo điều kiện để tiếp cận nguồn vốn vay, giúp bà con yên tâm đầu tư, phát triển sản xuất theo hướng lâu dài và bền vững.

 

Hành lang pháp lý – điểm nghẽn lớn nhất

 

Mặc dù đạt hiệu quả cao, song phần lớn các hộ nuôi cá tại Hòn Mê hiện vẫn hoạt động mang tính tự phát, chưa có hành lang pháp lý rõ ràng. Do không được công nhận là chủ thể sản xuất chính thức, họ gặp nhiều trở ngại trong tiếp cận vốn tín dụng, bảo hiểm sản xuất, cũng như các hỗ trợ khác từ Nhà nước. Đặc biệt, việc chưa được giao hoặc cho thuê mặt nước biển theo đúng quy định đang khiến các hộ nuôi rơi vào tình trạng "nuôi chui", thiếu tính pháp lý, không thể thế chấp tài sản hoặc mở rộng quy mô bài bản.

 

pháp
Phần lớn các hộ nuôi cá tại Hòn Mê hiện vẫn hoạt động mang tính tự phát

 

Nhằm phát triển nghề nuôi cá lồng một cách bền vững, ngày 28/12/2022, UBND tỉnh Thanh Hóa đã ban hành Quyết định số 4716/QĐ-UBND về Đề án phát triển nuôi cá lồng đến năm 2030, đặt mục tiêu 1500 ô lồng và đạt sản lượng 4.500 tấn/năm tại khu vực Hòn Mê. Đến tháng 1/2024, quy hoạch vùng nuôi lồng tại đảo Mê được điều chỉnh với diện tích 88 ha, bao gồm các đảo Hòn Bung, Hòn Vàng, Hòn Đót... Tuy nhiên, việc triển khai vẫn gặp vướng mắc do thiếu sự thống nhất giữa các quy định pháp luật, khiến nhà đầu tư không thể yên tâm mở rộng sản xuất.

 

Nghị quyết số 68/NQ-CP về phát triển kinh tế tư nhân đã chỉ rõ: “Kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa.” Nghị quyết yêu cầu các cấp, ngành cần tháo gỡ rào cản thủ tục hành chính, cải thiện tiếp cận đất đai, mặt nước, tín dụng và thị trường cho khu vực kinh tế ngoài Nhà nước.

 

Tại Hòn Mê, những điểm nghẽn như chưa được giao quyền sử dụng mặt nước, không thể thế chấp tài sản nuôi để vay vốn, hay thiếu chính sách bảo hiểm rủi ro nghề cá… chính là các yếu tố kìm hãm sự phát triển của kinh tế tư nhân trong nuôi biển. Nếu không nhanh chóng cải cách quy trình giao biển, áp dụng tín dụng xanh và khuyến khích công nghệ cao trong nuôi biển, mô hình cá lồng sẽ mãi chỉ ở quy mô tự phát, nhỏ lẻ – khó nâng tầm thành ngành kinh tế mũi nhọn.

 

Hơn cả một sinh kế, nghề nuôi cá lồng ở Hòn Mê là minh chứng rõ nét cho tiềm năng phát triển của nông nghiệp biển hiện đại. Với điều kiện tự nhiên thuận lợi, tinh thần đổi mới của người dân và cơ hội từ các chủ trương lớn như Nghị quyết 68, nơi đây hoàn toàn có thể trở thành hình mẫu cho phát triển kinh tế biển gắn với khu vực tư nhân.

 

Từ những mô hình cá lồng đạt doanh thu hàng tỷ đồng mỗi năm, bài học đặt ra là: khi chính sách phù hợp, hành lang pháp lý rõ ràng và Nhà nước đồng hành, người dân sẽ không chỉ yên tâm đầu tư mà còn chủ động sáng tạo, làm giàu từ biển. Đó cũng chính là cách thiết thực để Nghị quyết 68 thấm vào thực tiễn – không chỉ ở Hòn Mê.