Thứ năm, 25/06/2026 14:54 (GMT+7)

Khơi thông nguồn lực phát triển kinh tế biển

Thiên Trường

Nguồn lực kinh tế biển của Việt Nam vẫn đang đối mặt với nhiều rào cản thể chế, đòi hỏi một tư duy quản trị tổng hợp để tạo đột phá.

Dư địa từ những ngành kinh tế biển mới nổi

Số liệu thống kê từ Bộ Nông nghiệp và Môi trường cho thấy, kinh tế biển hiện đóng góp khoảng 50% GRDP cả nước, đồng thời giúp nhiều địa phương ven biển dẫn đầu về thu nhập bình quân đầu người. Nếu trước đây biển chủ yếu gắn liền với các hoạt động truyền thống như khai thác dầu khí và đánh bắt hải sản, thì nay các ngành kinh tế biển mới nổi đang mở ra không gian phát triển khổng lồ.

Kinh tế biển hiện đóng góp khoảng 50% GRDP cả nước

Theo báo cáo sơ kết thực hiện Nghị quyết 36-NQ/TW, ngành dầu khí tiếp tục đóng góp hơn 8% tổng thu ngân sách nhà nước với tổng lượng phát hiện trên toàn thềm lục địa đạt khoảng 4,4 tỷ m³ dầu quy đổi. Bên cạnh đó, lĩnh vực hàng hải và logistics cũng ghi nhận tốc độ tăng trưởng nhanh chóng với hệ thống 320 bến cảng, tổng chiều dài cầu cảng đạt 102km, giúp lượng hàng hóa thông qua cảng biển đạt tới 1,17 tỷ tấn.

Đội tàu biển Việt Nam hiện đã vươn lên đứng thứ 10 thế giới về vận tải hàng hóa với 1.434 tàu, sở hữu tổng trọng tải khoảng 9,4 triệu DWT. Ngành nuôi biển cũng chuyển mình mạnh mẽ với thể tích lồng nuôi đạt 9,7 triệu m³, đóng góp lớn vào tổng kim ngạch xuất khẩu thủy sản đạt khoảng 11,3 tỷ USD. Đặc biệt, năng lượng tái tạo ngoài khơi với các dự án điện gió, điện sóng đang được kỳ vọng là mỏ vàng xanh, mở ra động lực tăng trưởng mới khi dư địa trên đất liền ngày càng thu hẹp.

Tuy nhiên, bên cạnh những con số ấn tượng, kinh tế biển đang bộc lộ nhiều hạn chế về mặt pháp lý do tình trạng chồng lấn quy hoạch. Báo cáo tổng kết thi hành Luật Tài nguyên, môi trường biển và hải đảo chỉ ra rằng, hệ thống pháp luật về quy hoạch hiện nay chưa có quy định phân vùng cụ thể cho từng ngành khai thác riêng biệt như khoáng sản, điện gió, du lịch hay hàng hải. Các ngành chủ yếu tự dựa trên các vùng chung để xác định khu vực triển khai, gây ra nhiều khó khăn cho các tổ chức, cá nhân khi không đủ năng lực thực hiện đầy đủ các hoạt động điều tra, khảo sát và đo đạc thực địa.

Dịch chuyển tư duy quản trị sang chiều sâu

Để tháo gỡ các nút thắt pháp lý và khơi thông nguồn lực, việc hoàn thiện thể chế chính sách phát triển kinh tế biển bền vững đã trở thành yêu cầu hết sức cấp thiết. Trung tướng Trần Đức Thuận, Phó Chủ nhiệm Ủy ban Quốc phòng, An ninh và Đối ngoại của Quốc hội, khẳng định cần phải khẩn trương xây dựng cơ chế quản lý tổng hợp, thống nhất không gian biển quốc gia theo hướng liên ngành, liên vùng.

Ảnh minh họa 

Các quy hoạch phát triển kinh tế phải được tích hợp đồng bộ trong quy hoạch không gian biển quốc gia để tránh xung đột lợi ích giữa các ngành, đồng thời bảo đảm hài hòa giữa mục tiêu tăng trưởng, bảo tồn hệ sinh thái và yêu cầu quốc phòng, an ninh, chủ quyền biển đảo.

Đồng thời, hành lang pháp lý mới cần tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho các lĩnh vực tiên phong như kinh tế tuần hoàn biển, kinh tế carbon thấp, nuôi biển công nghiệp hay khai thác dữ liệu biển. Dưới góc nhìn chiến lược, ông Vũ Mạnh Hùng, Vụ trưởng Vụ Kinh tế ngành thuộc Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương, nhấn mạnh phát triển kinh tế biển trong giai đoạn mới đòi hỏi phải triển khai đồng bộ các giải pháp từ đổi mới tư duy quản trị đến đẩy mạnh chuyển đổi số. Song song với việc xây dựng các doanh nghiệp biển có sức cạnh tranh quốc tế, quốc gia cần đầu tư đồng bộ hệ thống cảng biển, hạ tầng logistics, các khu kinh tế ven biển và đô thị biển hiện đại.

Sự thay đổi căn bản này đòi hỏi toàn ngành phải dịch chuyển mạnh mẽ: từ tư duy quản lý đơn ngành sang quản trị biển tổng hợp; từ khai thác tài nguyên theo chiều rộng sang sử dụng hiệu quả không gian theo chiều sâu và từ phát triển dựa vào lợi thế tự nhiên sang dựa trên khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và tăng trưởng xanh. Đó chính là chìa khóa để Việt Nam không chỉ tối ưu hóa giá trị kinh tế mà còn bảo vệ vững chắc chủ quyền và môi trường biển cho các thế hệ tương lai.