hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
Nhập email của bạn để lấy lại mật khẩu
Cơ chế thu hút nguồn lực góp phần chuyển hóa các giá trị di sản văn hóa thành sức mạnh kinh tế, đòi hỏi những đột phá về chính sách thuế, hạ tầng số và tư duy quản lý hiện đại.
Sự xuất hiện của Dự thảo Nghị quyết về phát triển văn hóa Việt Nam tại Kỳ họp thứ Nhất, Quốc hội khóa XVI được ví như một luồng gió mới, kỳ vọng sẽ cởi trói cho những tiềm năng còn đang ngủ yên của ngành công nghiệp sáng tạo. Với 13 Điều và 10 nhóm chính sách lớn, Dự thảo không chỉ dừng lại ở những khẩu hiệu định hướng mà đã đi sâu vào các con số cụ thể, tiêu biểu là mục tiêu bảo đảm chi tối thiểu 2% ngân sách cho văn hóa.

Tuy nhiên, nhìn từ góc độ thực tế, để văn hóa thực sự trở thành một ngành kinh tế mũi nhọn có đóng góp lớn vào GDP, việc làm rõ cơ chế thu hút nguồn lực, đặc biệt là nguồn lực từ khu vực tư nhân và quốc tế, đang trở thành đòi hỏi cấp bách hơn bao giờ hết.
Nhiều chuyên gia nhận định rằng, lâu nay chúng ta vẫn thường nhắc đến việc huy động nguồn lực một cách chung chung mà thiếu đi những định danh cụ thể về nhà đầu tư chiến lược. Tại các buổi thảo luận, đại biểu Trương Minh Huy Vũ từ Đoàn đại biểu Quốc hội TP. Hồ Chí Minh đã chỉ ra một khoảng trống quan trọng là Dự thảo hiện nay mới chỉ tập trung vào việc huy động mà chưa định nghĩa rõ thế nào là một nhà đầu tư chiến lược trong lĩnh vực văn hóa.
Để thu hút được những con sếu đầu đàn, chính sách cần chỉ rõ các điều kiện ưu đãi đặc thù, quy mô đầu tư và những cam kết dài hạn về bảo tồn kết hợp khai thác thương mại. Nếu không có những tiêu chí này, các dự án văn hóa rất dễ rơi vào tình trạng manh mún, thiếu tầm nhìn dài hạn và khó tạo ra sức bật mang tính biểu tượng cho quốc gia.
Một trong những rào cản lớn nhất hiện nay chính là sự khu biệt giữa dòng vốn nội và ngoại. Đại biểu Vũ cũng lưu ý rằng, các dòng vốn quốc tế từ những quốc gia có thế mạnh về công nghiệp văn hóa như Hàn Quốc, Nhật Bản hay Hoa Kỳ mang theo không chỉ nguồn lực tài chính mà còn là công nghệ và quy trình quản trị hiện đại.
Việc làm rõ cơ chế tiếp nhận nguồn vốn quốc tế trong Quỹ phát triển văn hóa sẽ là chìa khóa để Việt Nam gia nhập chuỗi giá trị sáng tạo toàn cầu. Khi thế giới đã tiến rất xa trong việc thương mại hóa văn hóa, chúng ta không thể đứng ngoài cuộc chơi nếu chỉ dựa vào nguồn vốn ngân sách hay các dòng tiền nội địa hạn hẹp.
Điều này đòi hỏi một tư duy mở, coi công nghiệp văn hóa là lĩnh vực có khả năng tạo ra lợi nhuận và đóng góp lớn cho nền kinh tế thay vì chỉ là một ngành phúc lợi xã hội đơn thuần.
Bàn về tính thực thi, các doanh nghiệp trong ngành thường xuyên kiến nghị về sự thiếu hụt hạ tầng văn hóa chuẩn mực. Những nhà hát hiện đại, các trung tâm nghệ thuật đa năng hay các công viên văn hóa chủ đề không chỉ là nơi biểu diễn mà còn là hệ sinh thái kinh tế hoàn chỉnh.
Các ý kiến từ nghị trường khẳng định, nếu không có hệ thống hạ tầng đủ mạnh, Việt Nam sẽ lỡ hẹn với dòng khách du lịch chất lượng cao, những người sẵn sàng chi trả lớn cho những trải nghiệm văn hóa độc đáo.
Do đó, việc mạnh dạn áp dụng các hình thức hợp tác như BT hay BOT trong lĩnh vực này là bước đi cần thiết, giúp tận dụng tối đa nguồn vốn xã hội hóa để bù đắp cho sự thiếu hụt ngân sách nhà nước trong bối cảnh hiện nay.
Bước sang kỷ nguyên số, công nghiệp văn hóa không còn chỉ nằm ở các bảo tàng hay di tích hữu hình. Đây là nơi mà công nghệ AI, Blockchain và thực tế ảo VR lên ngôi để tạo ra những giá trị mới từ vốn cổ. Đại biểu Tạ Đình Thi từ Đoàn đại biểu Quốc hội TP Hà Nội đã đưa ra một góc nhìn rất sắc sảo khi đề xuất bổ sung đối tượng nghiên cứu và phát triển (R&D) vào diện ưu đãi thuế.

Thực tế cho thấy, nếu Việt Nam chỉ dừng lại ở việc khai thác những gì cha ông để lại mà không đầu tư vào các công cụ sáng tạo nội dung số, chúng ta sẽ mãi chỉ là người đi sau. Những sản phẩm văn hóa số mang thương hiệu quốc gia có sức cạnh tranh toàn cầu chỉ có thể ra đời khi có sự hỗ trợ đủ mạnh cho các nền tảng công nghệ cao ngay từ khâu ý tưởng.
Bên cạnh vốn và công nghệ, yếu tố con người chính là linh hồn của ngành công nghiệp sáng tạo. Chính sách visa văn hóa hay thẻ sáng tạo là một kiến nghị mang tính đột phá được đưa ra trong kỳ họp lần này. Việc cấp thị thực dài hạn lên tới 5 năm cho các chuyên gia, nghệ sĩ quốc tế và nhà quản lý di sản hàng đầu sẽ tạo ra một môi trường giao thoa trí tuệ mạnh mẽ.
Điều này không chỉ giúp nhân sự trong nước học hỏi kinh nghiệm quản trị mà còn biến Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn cho các dự án sáng tạo quốc tế lớn. Một chuyên gia quốc tế lưu trú dài hạn sẽ mang lại giá trị lan tỏa lớn hơn gấp nhiều lần một đoàn khách du lịch ngắn ngày, bởi họ chính là những người trực tiếp xây dựng quy chuẩn và chuẩn hóa đội ngũ nhân sự chuyên nghiệp cho nước nhà.
Về mặt hành chính, cơ chế một cửa liên ngành cho các đoàn làm phim nước ngoài là một ví dụ điển hình cho tư duy phục vụ thay vì quản lý. Việc rút ngắn thời gian cấp phép xuống còn 15 ngày không đơn thuần là giảm bớt thủ tục, mà là thông điệp về sự sẵn sàng của Việt Nam trong việc quảng bá hình ảnh đất nước qua điện ảnh thế giới.
Khi một bộ phim bom tấn quốc tế được quay tại các danh thắng Việt Nam, hiệu ứng lan tỏa đến ngành du lịch và dịch vụ là không thể đo đếm bằng tiền mặt ngay lập tức. Những quy định tại Điều 9 về hoàn trả chi phí cho đoàn phim cần được cụ thể hóa bằng các quy trình minh bạch, tránh gây phiền hà cho nhà đầu tư, từ đó tạo ra một môi trường kinh doanh văn hóa chuyên nghiệp và sòng phẳng.
Cuối cùng, mọi chính sách ưu đãi đều cần được kiểm chứng bằng kết quả đầu ra thực tế. Việc đề xuất chi ngân sách tối thiểu 2% cho văn hóa gắn liền với các chỉ số đo lường hiệu quả như số lượng sản phẩm xuất khẩu hay mức độ tương tác di sản số từ nước ngoài là một bước tiến về tư duy quản trị hiện đại.
Ngân sách không nên được hiểu là khoản chi tiêu một đi không trở lại mà phải là khoản đầu tư có đối ứng rõ ràng. Khi mỗi đồng vốn đổ vào văn hóa đều được tính toán dựa trên khả năng tạo ra giá trị gia tăng và việc làm, lúc đó ngành công nghiệp văn hóa mới thực sự thoát khỏi cái mác ngành tiêu tiền để trở thành một động cơ tăng trưởng mới.
Việc hoàn thiện Dự thảo Nghị quyết không chỉ là nhiệm vụ của các nhà làm luật mà còn là mong mỏi của toàn thể cộng đồng sáng tạo và doanh nghiệp. Để văn hóa thực sự soi đường cho quốc dân đi theo nghĩa kinh tế hiện đại, nó cần một bệ đỡ thể chế vững chắc, một cơ chế thu hút nguồn lực thông thoáng và một tư duy hội nhập không giới hạn.
Khi các điểm nghẽn về dòng vốn, công nghệ và thủ tục hành chính được tháo gỡ, công nghiệp văn hóa Việt Nam chắc chắn sẽ trở thành một trụ cột vững chắc, góp phần định vị vị thế của quốc gia trên bản đồ kinh tế toàn cầu. Những thảo luận tại Quốc hội khóa XVI đang đặt những viên gạch đầu tiên cho lộ trình đầy triển vọng này.