hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
Nhập email của bạn để lấy lại mật khẩu
Đây là một trong những mục tiêu mà tỉnh Gia Lai đặt ra tại Quyết định Số 875/QĐ-UBND về ban hành Chương trình hành động thực hiện Chiến lược tổng thể phát triển khu vực dịch vụ thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 trên địa bàn tỉnh.
Quyết định nêu rõ, mục tiêu của Chương trình nhằm phát triển khu vực dịch vụ trở thành khu vực chủ chốt, chiếm tỷ trọng lớn trong nền kinh tế với chất lượng, hiệu quả và năng lực cạnh tranh cao.
Cụ thể, phấn đấu tốc độ tăng trưởng ngành dịch vụ bình quân giai đoạn 2021 – 2025 đạt 8% – 9%, đến năm 2025 cơ cấu dịch vụ chiếm tỷ trọng 35% – 36% trong GRDP của tỉnh.
Trong giai đoạn 2026 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050, khu vực dịch vụ tiếp tục duy trì tốc độ tăng trưởng cao hơn tốc độ tăng trưởng chung của nền kinh tế, chiếm tỷ trọng cao trong cơ cấu kinh tế của tỉnh.
Để hiện thực hoá những mục tiêu trên, tỉnh Gia Lai đã đề ra một số nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu như sau:
Về dịch vụ du lịch:
UBND tỉnh giao Sở Văn hóa, Thể thao và Du lịch chủ trì, phối hợp với các sở, ban, ngành và địa phương tiếp tục triển khai có hiệu quả Chương trình số 43-CTr/TU, ngày 26 tháng 6 năm 2017 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy về thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW, ngày 16 tháng 01 năm 2017 của Bộ Chính trị về phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế mũi nhọn.
Phát triển đa dạng các loại hình sản phẩm du lịch theo hướng chất lượng, đồng bộ; trong đó ưu tiên phát triển các sản phẩm du lịch đặc thù, có đẳng cấp và giá trị gia tăng cao mang thương hiệu du lịch tỉnh, tôn trọng yếu tố tự nhiên và văn hóa địa phương như: Khu du lịch Biển Hồ – Chư Đang Ya, Khu du lịch sinh thái hồ Ia Băng, Khu du lịch sinh thái vườn quốc gia Kon Ka Kinh…

Đồng thời, tập trung đẩy mạnh phát triển du lịch thông minh dựa trên nền tảng số, hướng tới thời kỳ số trong quản lý và phục vụ phát triển du lịch với kết cấu hạ tầng, cơ sở dữ liệu vững chắc và các ứng dụng hoạt động xuyên suốt và chuyên nghiệp.
Hình thành các mô hình du lịch cộng đồng, du lịch nông thôn trên cơ sở lợi thế tiềm năng về văn hoá bản địa, ngành nghề thủ công truyền thống, sản xuất rau, hoa và cây ăn quả… trong việc kết hợp với chương trình “Mỗi xã một sản phẩm” (OCOP)…
Dịch vụ logistics và vận tải:
Sở Công Thương có nhiệm vụ chủ trì, phối hợp với Sở Giao thông vận tải rà soát các quy trình, thủ tục để tổ chức triển khai Cụm chế xuất và Trung tâm logistics thuộc Đề án chuyển đổi cây trồng vùng hạn, thành lập vùng nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao khu vực cánh đồng An Phú theo đúng quy định, đảm bảo phù hợp với quy hoạch ngành, lĩnh vực và các quy hoạch khác có liên quan…
Song song đó là Sở Giao thông vận tải chủ trì, phối hợp với các sở, ban, ngành và địa phương ưu tiên tập trung công trình hạ tầng giao thông trọng điểm, các tuyến nội tỉnh kết nối vùng kinh tế trọng điểm.
Đồng thời, tham mưu, đề xuất UBND tỉnh tăng cường hoạt động xúc tiến đầu tư, kêu gọi đầu tư vào xây dựng hệ thống công trình giao thông, cảng cạn, bến xe, bãi đỗ xe, trạm dừng nghỉ trên địa bàn tỉnh nhằm tạo điều kiện cho hoạt động lưu thông xuất khẩu hàng hóa của tỉnh, góp phần giảm chi phí vận tải qua đó giảm tổng chi phí logistics cho doanh nghiệp để thúc đẩy dịch vụ logistics của tỉnh phù hợp với tiến trình phát triển và hội nhập kinh tế quốc tế.
Dịch vụ phục vụ nông lâm nghiệp:
Sở Nông nghiệp và Phát triển phối hợp với các sở, ban, ngành và địa phương tổ chức triển khai có hiệu quả Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 05/8/2008 Hội nghị lần thứ VII Ban Chấp hành Trung ương về nông nghiệp, nông dân, nông thôn; Nghị quyết số 13-NQ/TU ngày 17/3/2020 của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh về Phát triển kinh tế tập thể; tạo môi trường thuận lợi để hình thành và phát triển mạnh các loại hình doanh nghiệp nông thôn, nhất là các doanh nghiệp chế biến nông, lâm, thủy sản, doanh nghiệp sử dụng nguyên liệu và thu hút nhiều lao động nông nghiệp tại chỗ, doanh nghiệp dịch vụ vật tư, tiêu thụ nông, lâm, thủy sản cho nông dân…
Tiếp tục triển khai có hiệu quả về chuyển đổi số trong lĩnh vực nông lâm nghiệp, khuyến khích mô hình tăng trưởng xanh, bền vững; phát triển hợp tác xã nông nghiệp, ứng dụng công nghệ cao gắn với thương mại, dịch vụ, du lịch trải nghiệm nông nghiệp; chế biến sâu, liên kết sản xuất theo chuỗi giá trị gắn với tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp.
Song song theo đó là rà soát, phát triển mạng lưới cơ sở cung cấp dịch vụ phục vụ nông lâm nghiệp trong tỉnh như dịch vụ cung ứng vật tư nông nghiệp, dịch vụ tư vấn kỹ thuật, dịch vụ tư vấn chứng nhận sản xuất thực hành nông nghiệp tốt theo các tiêu chuẩn (VietGap, GlobalGap…), đào tạo nghề nông nghiệp cho lao động nông thôn.

Ngoài ra 3 loại dịch vụ trên, Gia Lai cũng đề ra các nhiệm vụ, giải pháp về Dịch vụ công nghệ thông tin và truyền thông; Dịch vụ tài chính – ngân hàng; Dịch vụ khoa học – công nghệ; Dịch vụ phân phối; Dịch vụ y tế; Dịch vụ hỗ trợ kinh doanh; Dịch vụ giáo dục và đào tạo.
UBND tỉnh giao Thủ trưởng các sở, ban, ngành và Chủ tịch UBND các huyện, thị xã, thành phố thường xuyên kiểm tra, giám sát tiến độ và kết quả thực hiện Chương trình hành động này trong phạm vi chức năng, nhiệm vụ được giao.
Định kỳ vào ngày 10 tháng 12 hằng năm (hoặc đột xuất theo yêu cầu) thực hiện báo cáo đánh giá tình hình, kết quả thực hiện Chương trình hành động này và kết quả thực hiện trong các ngành, lĩnh vực dịch vụ thuộc thẩm quyền quản lý, gửi Sở Kế hoạch và Đầu tư để tổng hợp.
Sở Kế hoạch và Đầu tư chủ trì, phối hợp với các cơ quan, đơn vị liên quan có trách nhiệm theo dõi các cơ quan, đơn vị việc thực hiện Chương trình này; định kỳ tháng 12 hàng năm tổng hợp, báo cáo theo đúng quy định.
Trần Thuỳ