hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
Nhập email của bạn để lấy lại mật khẩu
Đầu tháng 12/2024, giá cao su tại thị trường châu Á tăng do thời tiết ẩm ướt tại Thái Lan và lũ lụt đã ảnh hưởng đến một số khu vực sản xuất, làm hạn chế nguồn cung.
Từ đầu tháng 12/2024 đến nay, giá cao su tại các sàn giao dịch châu Á tăng so với cuối tháng trước, do thời tiết ẩm ướt tại Thái Lan và lũ lụt đã ảnh hưởng đến một số khu vực sản xuất làm hạn chế nguồn cung. Ngoài ra, căng thẳng địa chính trị và sự bất ổn liên quan đến các mức thuế tiềm năng của Hoa Kỳ đối với hàng hóa Trung Quốc cũng góp phần làm tăng sự biến động trên thị trường và ảnh hưởng đến tâm lý giao dịch. Tuy nhiên đà tăng giá cao su vẫn bị hạn chế do dữ liệu kinh tế không khả quan từ Trung Quốc.
Tại Sở giao dịch hàng hóa Osaka Exchange (OSE), từ đầu tháng 12/2024 đến nay, giá cao su RSS3 biến động mạnh, sau khi giảm xuống mức 376 Yên/kg (ngày09/12/2024), giá tăng trở lại trong mấy phiên gần đây. Ngày 11/12/2024, giá cao su RSS3 giao kỳ hạn gần ở mức 383 Yên/kg (tương đương 2,53 USD/kg), tăng 0,6% so với cuối tháng 11/2024 và tăng 62,5% so với cùng kỳ năm 2023.
Tại Sàn giao dịch hàng hóa tương lai Thượng Hải (SHFE), giá cao su RSS3 có xu hướng tăng so với cuối tháng trước. Ngày 11/12/2024 giá cao su RSS3 giao kỳ hạn gần ở mức 18.520 NDT/tấn (tương đương 2,55 USD/kg), tăng 3,3% so với cuối tháng 11/2024 và tăng 38,7% so với cùng kỳ năm 2023.
Tại Thái Lan, giá cao su RSS3 cũng trong xu hướng tăng. Ngày 11/12/2024, giá cao su RSS3 chào bán ở mức 79,16 Baht/kg (tương đương 2,34 USD/kg), tăng 3,1% so với cuối tháng 11/2024 và tăng 36,8% so với cùng kỳ năm 2023. Cơ quan khí tượng Thái Lan đã cảnh báo về mưa lớn có thể gây lũ quét từ ngày 12-16/12/2024 có thể ảnh hưởng trực tiếp đến hoạt động sản xuất và thu hoạch cao su, đặc biệt là tại các khu vực trồng cao su chủ yếu của Thái Lan.
Tại Thái Lan: trong 10 tháng năm 2024, Thái Lan đã xuất khẩu được 2,39 triệu tấn cao su tự nhiên, tăng 6% so với cùng kỳ năm 2023 (trong đó, xuất khẩu cao su tiêu chuẩn đạt 1,53 triệu tấn, tăng 19%; xuất khẩu cao su hun khói đạt 283 nghìn tấn, giảm 4%; xuất khẩu mủ cao su đạt 558 nghìn tấn, giảm 15% so với cùng kỳ năm 2023). Trung Quốc là khách hàng lớn nhất tiêu thụ cao su tự nhiên của Thái Lan, nhưng xuất khẩu cao su của Thái Lan sang thị trường này đã giảm 13% so với cùng kỳ năm 2023, đạt 757 nghìn tấn. Trong 10 tháng năm 2024, Thái Lan cũng xuất khẩu được 1,05 triệu tấn cao su hỗn hợp, giảm 24% so với cùng kỳ năm 2023. Trong đó, xuất khẩu cao su hỗn hợp sang Trung Quốc đạt 1,02 triệu tấn, giảm 26% so với cùng kỳ năm 2023.
Với thị trường In-đô-nê-xi-a: Theo số liệu mới nhất, sản lượng cao su tự nhiên của In-đô-nê-xi-a đã giảm đáng kể trong năm 2023. Sản lượng năm 2023 chỉ đạt 2,24 triệu tấn, giảm 17,6% so với 2,72 triệu tấn của năm 2022. Diện tích trồng cao su tự nhiên của In-đô-nê-xi-a cũng có xu hướng thu hẹp trong năm 2023, đạt 3,15 triệu ha, giảm 11,5% so với năm 2022. Diện tích thu hoạch cao su tự nhiên của In-đô-nê-xi-a năm 2023 đạt 2,28 triệu ha, giảm 15,6% so với năm 2022. Điều này có nghĩa là mặc dù diện tích trồng cao su vẫn còn rất lớn, nhưng diện tích thu hoạch đang giảm dần. Năng suất cao su tự nhiên trung bình của In-đô-nê-xi-a năm 2023 là 983 kg/ha, giảm 2,4% so với năm 2022.
Trong 10 tháng năm 2024, In-đô-nê-xi-a đã xuất khẩu được 1,35 triệu tấn cao su tự nhiên và cao su hỗn hợp, giảm 9,5% so với cùng kỳ năm 2023. Trong đó, xuất khẩu cao su tự nhiên đạt 1,33 triệu tấn, giảm 10% so với cùng kỳ năm 2023 (trong đó, tổng lượng xuất khẩu cao su tiêu chuẩn đạt 1,3 triệu tấn, giảm 9,5%; Xuất khẩu cao su hun khói đạt 33 nghìn tấn, tương đương so với cùng kỳ năm ngoái; Xuất khẩu mủ cao su đạt 0,08 triệu tấn, giảm 72% so với cùng kỳ năm 2023). Trong 10 tháng năm 2024, xuất khẩu cao su tự nhiên và cao su hỗn hợp của In-đô-nê-xi-a sang Trung Quốc đạt 143 nghìn tấn, giảm 28% so với cùng kỳ năm 2023.
Tại Cam-pu-chia: Theo báo cáo của Tổng cục Cao su Cam-pu-chia, trong 10 tháng năm 2024, nước này đã xuất khẩu được 291.269 tấn cao su khô, với trị giá 472 triệu USD, tăng 6% về lượng và tăng 22,5% về trị giá so với cùng kỳ năm 2023. Giá bình quân cao su xuất khẩu đạt 1.621 USD/tấn, cao hơn khoảng 264 USD/tấn so với cùng kỳ năm 2023. Cao su của Cam-pu-chia chủ yếu được xuất khẩu sang các thị trường: Ma-lai-xi-a, Việt Nam, Xin-ga-po và Trung Quốc. Sự tăng trưởng này không chỉ phản ánh sự phát triển ổn định của ngành cao su Cam-pu-chia mà còn thể hiện khả năng cạnh tranh của nước này trên thị trường quốc tế.
Với thị trường trong nước, từ đầu tháng 12/2024 đến nay, giá mủ cao su nguyên liệu tại các tỉnh, thành phố tăng so với cuối tháng trước. Tại các công ty cao su, hiện giá thu mua mủ cao su nguyên liệu duy trì quanh mức 425-465 đồng/TSC. Trong đó, Công ty Cao su Phú Riềng báo giá thu mua mủ nước ở mức 465 đồng/TSC và giá thu mua mủ tạp ở mức 425 đồng/TSC, tăng 10 đồng/TSC so với cuối tháng trước. Trong khi đó, Công ty Cao su Bà Rịa thông báo giá thu mua ở mức 444-454 đồng/ TSC, tăng 12 đồng/TSC so với cuối tháng trước. Công ty Cao su Mang Yang báo giá thu mua ở mức 438-441 đồng/TSC, ổn định so với cuối tháng 11/2024.