hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
Nhập email của bạn để lấy lại mật khẩu
Trong 10 ngày giữa tháng 11/2024, giá cao su tại thị trường châu Á giảm chủ yếu do lo ngại về nhu cầu không ổn định tại Trung Quốc. Lo ngại căng thẳng thương mại gia tăng giữa Hoa Kỳ và Trung Quốc cùng với các biện pháp kích thích kinh tế từ Chính phủ Trung Quốc không đạt kỳ vọng, đã làm tăng thêm sự bất ổn về nhu cầu.
Theo thống kê từ cục Xuất nhập khẩu, tại Sở giao dịch hàng hóa Osaka Exchange (OSE), giá cao su giảm so với ngày 11/11/2024. Chốt phiên giao dịch ngày 18/11/2024, giá cao su RSS3 giao kỳ hạn gần ở mức 354,8 Yên/kg (tương đương 2,29 USD/kg), giảm 4,1% so với ngày 11/11/2024, nhưng vẫn tăng 36,7% so với cùng kỳ năm 2023.
Tại Sàn giao dịch hàng hóa tương lai Thượng Hải (SHFE), giá cao su cũng giảm so với ngày 11/11/2024. Ngày 18/11/2024, giá cao su RSS3 giao kỳ hạn tháng 1/2025 ở mức 17.370 NDT/tấn (tương đương 2,4 USD/kg), giảm 4,7% so với ngày 11/11/2024, nhưng vẫn tăng 21,9% so với cùng kỳ năm 2023.
Đối với Thái Lan, giá cao su giảm so với ngày 11/11/2024. Ngày 18/11/2024 giá cao su RSS3 chào bán ở mức 72,33 Baht/ kg (tương đương 2,08 USD/kg), giảm 1,7% so với ngày 11/11/2024, nhưng tăng 23,1% so với cùng kỳ năm 2023.
Đối với thị trường nội địa, trong 10 ngày giữa tháng 11/2024, giá mủ chén và mủ nước tại các tỉnh, thành phố trên cả nước giảm so với 10 ngày trước đó. Tại các công ty cao su, hiện giá thu mua mủ cao su nguyên liệu duy trì quanh mức 425- 467 đồng/TSC, giảm từ 8-10 đồng/TSC so với 10 ngày trước đó. Trong đó, Công ty Cao su Phú Riềng báo giá thu mua ở mức 425-465 đồng/TSC, giảm 10 đồng/TSC so với 10 ngày trước đó. Công ty Cao su Bà Rịa báo giá thu mua ở mức 457-467 đồng/TSC, giảm 8 đồng/TSC so với 10 ngày trước đó. Trong khi đó, Công ty Cao su Mang Yang giữ giá thu mua ở mức 443-461 đồng/TSC, ổn định so với 10 ngày trước đó.
Về tình hình xuất khẩu của các nước, đối với Bờ Biển Ngà trong 10 tháng năm 2024, quốc gia này xuất khẩu được 1,21 triệu tấn cao su, tăng 5,8% so với cùng kỳ năm 2023. Cao su của Bờ Biển Ngà được xuất khẩu chủ yếu sang Trung Quốc, Ma-lai-xi-a, Ấn Độ, Hoa Kỳ, Đức... Bờ Biển Ngà đang trên đà phát triển sản xuất cao su, quốc gia này sắp trở thành nhà sản xuất cao su tự nhiên lớn thứ ba thế giới tính theo sản lượng.
Với Ma-lai-xi-a, tháng 9/2024, sản lượng cao su tự nhiên của Ma-lai-xi-a đạt 30,93 nghìn tấn, giảm 13,9% so với tháng 8/2024 và giảm 5,6% so với tháng 9/2023. Trong đó, 85,9% sản lượng cao su tự nhiên trong tháng 9/2024 được đóng góp bởi các hộ sản xuất nhỏ. Luỹ kế 9 tháng đầu năm 2024, sản lượng cao su tự nhiên của Ma-lai-xi-a đạt 268,58 nghìn tấn, tăng 5,8% so với cùng kỳ năm 2023.
Xuất khẩu cao su tự nhiên của Ma-lai-xi-a trong tháng 9/2024 đạt 39,91 nghìn tấn, giảm 30,6% so với tháng 8/2024 và giảm 30% so với tháng 9/2023. Trung Quốc vẫn là thị trường xuất khẩu cao su tự nhiên lớn nhất của Ma-lai-xi-a, chiếm 32,1% tổng lượng cao su xuất khẩu của nước này; tiếp đến là UAE chiếm 15,6%; Đức chiếm 11,7%; Hoa Kỳ chiếm 6,6% và Bồ Đào Nha chiếm 5,3% tổng lượng cao su xuất khẩu của Ma-lai-xi-a trong tháng 9/2024. Luỹ kế 9 tháng đầu năm 2024, xuất khẩu cao su tự nhiên của Ma-lai-xi-a đạt 441,15 nghìn tấn, tăng 3,8% so với cùng kỳ năm 2023.
Trong tháng 9/2024, Ma-lai-xi-a nhập khẩu 67,83 nghìn tấn cao su tự nhiên, giảm 11,4% so với tháng 8/2024 và giảm 23,6% so với tháng 9/2023. Luỹ kế 9 tháng đầu năm 2024, Ma-lai-xi-a nhập khẩu 740,95 nghìn tấn cao su tự nhiên, tăng 11% so với cùng kỳ năm 2023. Chủng loại cao su tự nhiên nhập khẩu chính bao gồm: Cao su tiêu chuẩn, mủ cao su cô đặc và cao su tự nhiên ở các dạng khác. Cao su tự nhiên được nhập khẩu chủ yếu từ Thái Lan, Bờ Biển Ngà, Phi-líp-pin và Mi-an-ma.
Tiêu thụ cao su tự nhiên nội địa của Ma-lai-xi-a trong tháng 9/2024 đạt 23,17 nghìn tấn, tăng 6% so với tháng 8/2024, nhưng giảm 4,5% so với tháng 9/2023. Luỹ kế 9 tháng đầu năm 2024, tiêu thụ cao su tự nhiên nội địa của Ma-lai-xi-a đạt 202,57 nghìn tấn, giảm 13,4% so với cùng kỳ năm 2023. Ngành găng tay cao su vẫn là ngành tiêu thụ cao su tự nhiên chính của Ma-lai-xi-a, chiếm 62,2% lượng tiêu thụ; chỉ cao su chiếm 12,5%; lốp và săm cao su chiếm 7,9% và các ngành khác chiếm 17,4%.
Tổng lượng cao su tự nhiên dự trữ tại Ma-lai-xi-a tính đến cuối tháng 9/2024 đạt 130,6 nghìn tấn, giảm 1,6% so với cuối tháng 8/2024 và giảm 15,2% so với cùng kỳ năm 2023.