hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
Nhập email của bạn để lấy lại mật khẩu
Trong 10 ngày giữa tháng 7/2024, giá cao su tại thị trường châu Á biến động trái chiều khi giảm tại Nhật Bản, tăng tại Thượng Hải và Thái Lan. Thị trường châu Á chịu áp lực bởi số liệu kinh tế của Trung Quốc thấp hơn so với dự kiến.
Giá cao su biến động trái chiều
Theo thống kê từ cục Xuất nhập khẩu, tại Sở giao dịch hàng hóa Osaka Exchange (OSE), ngày 18/7/2024, giá cao su RSS3 kỳ hạn gần giao dịch ở mức 319,1 Yên/kg (tương đương 2,04 USD/kg), giảm 1,5% so với 10 ngày trước đó, nhưng vẫn tăng 60,8% so với cùng kỳ năm 2023.
Tại Sàn giao dịch hàng hóa tương lai Thượng Hải (SHFE), ngày 18/7/2024, giá cao su RSS3 giao kỳ hạn gần ở mức 14.535 NDT/tấn (tương đương 2,0 USD/kg), tăng 0,7% so với 10 ngày trước đó và tăng 20,3% so với cùng kỳ năm 2023. Tuần tính đến ngày 14/7/2024, tồn kho cao su tự nhiên của Trung Quốc là 1,209 triệu tấn, giảm 11 nghìn tấn (tương đương giảm 0,9%) so với kỳ trước.
Đối với thị trường Thái Lan, ngày 18/7/2024 giá cao su RSS3 chào bán ở mức 69,19 Baht/kg (tương đương 1,91 USD/kg), tăng 1,5% so với 10 ngày trước đó và tăng 36,6% so với cùng kỳ năm 2023.
Về thị trường nội địa, trong 10 ngày giữa tháng 7/2024, giá mủ chén và mủ nước tại các tỉnh, thành phố trên cả nước giảm so với 10 ngày trước đó. Tại các công ty cao su, hiện giá thu mua mủ cao su nguyên liệu duy trì quanh mức 345-390 đồng/TSC, giảm 3-5 đồng/TSC so với 10 ngày trước đó. Trong đó, Công ty Cao su Bà Rịa báo giá thu mua ở mức 375-385 đồng/TSC, giảm 5 đồng/TSC so với cuối tháng 6/2024. Công ty Cao su Mang Yang báo giá thu mua ở mức 369-378 đồng/TSC, giảm 3-5 đồng/TSC so với cuối tháng 6/2024. Trong khi đó, Công ty Cao su Phú Riềng giữ giá thu mua ở mức 345-390 đồng/TSC.
Xuất khẩu cao su sang Trung Quốc giảm trong 6 tháng đầu năm
Trong 6 tháng đầu năm 2024, Trung Quốc vẫn là thị trường xuất khẩu cao su lớn nhất của Việt Nam, nhưng lượng cao su xuất khẩu sang thị trường này giảm so với cùng kỳ năm 2023. Theo thống kê của Tổng cục Hải quan Việt Nam, trong 6 tháng đầu năm 2024, Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc 489,37 nghìn tấn cao su, trị giá 717,9 triệu USD, giảm 16% về lượng và giảm 8% về trị giá so với cùng kỳ năm 2023. Xuất khẩu cao su sang Trung Quốc chiếm 67,35% về lượng và chiếm 64,8% về trị giá trong tổng xuất khẩu cao su của cả nước trong 6 tháng đầu năm 2024.
Thời gian tới, nhu cầu cao su của thị trường Trung Quốc có thể sẽ bị ảnh hưởng bởi EU đã áp mức thuế 37,6% đối với xe điện nhập khẩu từ nước này kể từ ngày 05/7/2024. Giới chuyên gia dự báo thuế tạm thời cao hơn sẽ làm giảm 42% nhập khẩu xe điện của Trung Quốc và giá xe điện có thể tăng trung bình 0,3- 0,9% tại EU. Xuất khẩu xe điện của Trung Quốc bị ảnh hưởng thì nhu cầu nhập khẩu cao su để sản xuất lốp xe của Trung Quốc cũng sẽ giảm tương ứng.
Về chủng loại xuất khẩu, trong 6 tháng đầu năm 2024, Việt Nam xuất khẩu sang Trung Quốc chủ yếu là hỗn hợp cao su tự nhiên và cao su tổng hợp (HS 400280), chiếm 80,9% về lượng và chiếm 83,02% về trị giá trong tổng xuất khẩu cao su sang thị trường này, với 395,89 nghìn tấn, trị giá 596 triệu USD, giảm 21,6% về lượng và giảm 13,7% về trị giá so với cùng kỳ năm 2023. Đứng thứ 2 là chủng loại Latex chiếm 12,88% về lượng và chiếm 10,21% về trị giá trong tổng xuất khẩu cao su sang thị trường Trung Quốc, với 63,03 nghìn tấn, trị giá 73,28 triệu USD, tăng 39,8% về lượng và tăng 66,2% về trị giá so với cùng kỳ năm 2023.
Trong 6 tháng đầu năm 2024, lượng và trị giá xuất khẩu một số chủng loại cao su sang Trung Quốc tăng so với cùng kỳ năm 2023 như: Cao su tái sinh, SVR CV60, SVR 5, SVR 20, RSS1... Tuy nhiên, xuất khẩu một số chủng loại như: SVR 3L, SVR 10, RSS3, SVR CV50 vẫn giảm mạnh so với cùng kỳ năm 2023.
Giá xuất khẩu bình quân các chủng loại cao su sang Trung Quốc trong 6 tháng đầu năm 2024 đều tăng so với cùng kỳ năm 2023, trong đó tăng mạnh nhất là SVR 20 tăng 19,3%; Latex tăng 18,9%; SVR CV60 tăng 15,5%; Cao su tái sinh tăng 14,7%; SVR 5 tăng 14%; SVR 10 tăng 13,4%...