Thứ hai, 29/06/2026 16:24 (GMT+7)

 Động lực mới cho dòng vốn đầu tư gián tiếp

TS. Nguyễn Minh Phong

Trong bối cảnh Việt Nam đang xác lập mô hình tăng trưởng mới trên cơ sở khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, chuyển đổi xanh và nâng cao năng lực tự chủ chiến lược, việc thu hút vốn đầu tư nước ngoài, trong đó có dòng vốn gián tiếp, có ý nghĩa đặc biệt quan trọng.

Sau gần 40 năm đổi mới và mở cửa, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã không ngừng phát triển, không chỉ bổ sung nguồn lực đầu tư quan trọng mà còn góp phần thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng, hình thành một số ngành công nghiệp chủ lực, mở rộng thị trường xuất khẩu, từng bước đưa Việt Nam tham gia sâu hơn vào mạng lưới sản xuất và chuỗi giá trị toàn cầu, hỗ trợ phát triển nguồn nhân lực, tiếp nhận công nghệ và phương thức quản trị tiên tiến.

Tuy nhiên, dòng vốn đầu tư gián tiếp còn nhỏ, chưa tương xứng với tiềm năng của thị trường. Hoạt động góp vốn, mua bán, sáp nhập doanh nghiệp của các quỹ đầu tư, định chế tài chính toàn cầu và nhà đầu tư nước ngoài còn hạn chế; công tác quản lý còn thiếu chặt chẽ.

Đầu tư gián tiếp lần đầu được đặt ngang tầm với đầu tư trực tiếp

Với tinh thần đó, Nghị quyết số 10-NQ/TW ngày 8/6/2026 của Bộ Chính trị về phát triển kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài đã nhấn mạnh:

Phát triển thị trường vốn trung và dài hạn theo hướng minh bạch, hiện đại, an toàn, bền vững, giảm sự phụ thuộc vào thị trường tín dụng ngắn hạn; hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển thị trường chứng khoán, thị trường trái phiếu, định chế trung gian; khẩn trương triển khai xây dựng và đưa vào vận hành các trung tâm tài chính quốc tế, khu vực; đẩy nhanh lộ trình nâng hạng thị trường chứng khoán trên cơ sở cải cách thực chất về khả năng tiếp cận thị trường, chất lượng và sự đa dạng nguồn cung hàng hóa, minh bạch thông tin, an toàn hệ thống và bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư.

Tăng nguồn cung hàng hóa cho thị trường vốn thông qua đẩy mạnh cổ phần hóa gắn với niêm yết, thúc đẩy doanh nghiệp tư nhân huy động vốn và niêm yết trên thị trường, nâng cao quản trị công ty và minh bạch thông tin. Thí điểm có kiểm soát việc phát triển các sàn giao dịch tài sản mã hóa.

Phát triển cơ sở nhà đầu tư theo hướng đa dạng hóa loại hình và nhóm các nhà đầu tư, tập trung nâng cao tỷ trọng nhóm nhà đầu tư tổ chức, nhóm nhà đầu tư chuyên nghiệp, quỹ đầu tư, quỹ hưu trí bổ sung, doanh nghiệp bảo hiểm, quỹ đầu tư tư nhân, quỹ đầu tư mạo hiểm, quỹ đầu tư tăng trưởng; khuyến khích dòng vốn nước ngoài dài hạn, ổn định, có trách nhiệm.

Nâng cao khả năng tiếp cận thị trường của nhà đầu tư nước ngoài; hoàn thiện hạ tầng giao dịch, thanh toán, bù trừ, lưu ký; các công cụ phòng ngừa rủi ro và cơ chế bảo vệ nhà đầu tư; tiếp tục cải thiện chất lượng công bố thông tin, chuẩn mực kế toán, quản trị công ty và giám sát thị trường theo hướng tiệm cận thông lệ quốc tế.

Hoàn thiện cơ chế bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của nhà đầu tư trên thị trường vốn; nâng cao hiệu quả tiếp nhận, xử lý khiếu nại, tranh chấp và thực thi nghĩa vụ công bố thông tin, quản trị công ty; đồng thời tăng cường giám sát dòng vốn, ngoại hối, phòng, chống rửa tiền và rủi ro hệ thống.

Tạo nền tảng để Việt Nam trở thành trung tâm thu hút dòng vốn quốc tế

Có thể thấy, Nghị quyết số 10-NQ/TW lần đầu tiên coi trọng việc thu hút dòng vốn gián tiếp ngang với dòng vốn trực tiếp, nhất là từ các nhà đầu tư chuyên nghiệp, quỹ đầu tư, quỹ hưu trí bổ sung, doanh nghiệp bảo hiểm, quỹ đầu tư tư nhân, quỹ đầu tư mạo hiểm, quỹ đầu tư tăng trưởng; khuyến khích dòng vốn nước ngoài dài hạn, ổn định, có trách nhiệm…

Đặc biệt, Nghị quyết số 10-NQ/TW sẽ tạo lực đẩy mới cho Trung tâm Tài chính Quốc tế Việt Nam nổi lên không chỉ là nơi thu hút dòng vốn quốc tế mà còn tạo điều kiện hình thành các mô hình huy động và phân bổ vốn mới, qua đó tạo ra giá trị gia tăng lớn hơn cho nền kinh tế trong mối liên kết với hệ sinh thái phát triển dài hạn của nền kinh tế, bao gồm thị trường vốn, Trung tâm Tài chính Quốc tế, khu thương mại tự do, đổi mới sáng tạo, hạ tầng dữ liệu, logistics và sự phát triển của doanh nghiệp trong nước.

Có thể khẳng định, Nghị quyết số 10-NQ/TW đã truyền tải thông điệp mới: Việt Nam sẽ trở thành một điểm đến hấp dẫn đối với các nhà đầu tư và các định chế tài chính quốc tế trong thời gian tới. Nói cách khác, Việt Nam không chỉ cạnh tranh để trở thành một điểm đến sản xuất mà còn hướng tới vai trò là nơi tập trung các hoạt động nghiên cứu và phát triển (R&D), trung tâm điều hành khu vực, trung tâm dịch vụ và các hoạt động tài chính quốc tế, qua đó tham gia ngày càng sâu hơn và nâng cao vị thế của Việt Nam trong chuỗi giá trị toàn cầu.

Quán triệt và triển khai nghiêm túc Nghị quyết số 10-NQ/TW là nhiệm vụ của cả hệ thống chính trị, trước mắt tập trung vào tiếp tục phát triển thị trường hiện đại, minh bạch, an toàn, tiệm cận thông lệ quốc tế; nâng cao độ sâu tài chính và mở rộng hệ sinh thái sản phẩm tài chính; phát triển các sản phẩm tài chính mới, đặc biệt là các sản phẩm phái sinh theo hướng tiệm cận thông lệ quốc tế, minh bạch, hiện đại, an toàn, bền vững, giảm sự phụ thuộc vào thị trường tín dụng ngắn hạn, gắn với hoàn thiện đồng bộ thể chế phát triển thị trường chứng khoán, thị trường trái phiếu, định chế trung gian và các trung tâm tài chính quốc tế, khu vực…

Đồng thời, chuyển mạnh từ tư duy chủ yếu thu hút vốn sang tư duy phát triển nền tảng đầu tư chiến lược quốc gia; phát triển đồng bộ, thống nhất hệ sinh thái đầu tư nước ngoài, gắn với chiến lược phát triển doanh nghiệp trong nước, phát triển thị trường vốn, trung tâm tài chính quốc tế, khu thương mại tự do, các khu kinh tế, khu công nghiệp, khu công nghệ cao, trung tâm đổi mới sáng tạo, hạ tầng logistics, dữ liệu, năng lượng; khuyến khích các nhà đầu tư nước ngoài hình thành trụ sở khu vực và các trung tâm điều hành, nghiên cứu, thiết kế, dịch vụ của khu vực…

Mạnh dạn thí điểm mô hình thể chế vượt trội tại trung tâm tài chính quốc tế, khu thương mại tự do, khu kinh tế, khu công nghệ cao, các mô hình đổi mới sáng tạo và các không gian phát triển mới để thu hút dòng vốn chất lượng cao, thế hệ mới, đồng thời bảo đảm kiểm soát rủi ro. Rà soát, mở rộng việc tiếp cận thị trường đối với nhà đầu tư nước ngoài theo lộ trình phù hợp trên cơ sở đánh giá đầy đủ, toàn diện các tác động, bảo đảm công khai, minh bạch, áp dụng thống nhất, không phân biệt đối xử giữa các nhà đầu tư. Không áp dụng hồi tố theo hướng xử lý bất lợi cho doanh nghiệp, trừ trường hợp vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng, bảo vệ môi trường theo quy định của pháp luật. Lấy kết quả đóng góp thực chất làm thước đo chủ yếu trong thu hút, quản lý và sử dụng đầu tư nước ngoài.

Phấn đấu trước năm 2030, thị trường chứng khoán được tổ chức xếp hạng thị trường MSCI nâng hạng và đến năm 2045, khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài chiếm khoảng 25% tổng vốn đầu tư toàn xã hội, đóng góp khoảng 30% GDP của đất nước, góp phần đưa Việt Nam trở thành nước phát triển, thu nhập cao theo mục tiêu Văn kiện Đại hội XIV của Đảng và tinh thần Nghị quyết số 10-NQ/TW.

Nghị quyết số 10-NQ/TW - Cuộc cách mạng đón dòng vốn FDI

Nghị quyết số 10-NQ/TW - Cuộc cách mạng đón dòng vốn FDI

Nghị quyết số 10-NQ/TW đánh dấu bước chuyển dịch mang tính đột phá trong xúc tiến đầu tư, từ tư duy chờ đợi sang kiến tạo, hợp tác và may đo phương án để thu hút các tập đoàn đa quốc gia chiến lược.
Từ 1/7, hàng hóa rủi ro cao phải truy xuất nguồn gốc trước khi lưu thông

Từ 1/7, hàng hóa rủi ro cao phải truy xuất nguồn gốc trước khi lưu thông

Từ ngày 1/7/2026, Thông tư số 31/2026/TT-BCT của Bộ Công Thương chính thức có hiệu lực, đánh dấu bước chuyển mới trong công tác quản lý hàng hóa thông qua hệ thống truy xuất nguồn gốc điện tử. 
Hơn 219 nghìn tỷ đồng vốn đầu tư công đã được giải ngân

Hơn 219 nghìn tỷ đồng vốn đầu tư công đã được giải ngân

Năm 2026 ghi nhận quy mô kế hoạch vốn đầu tư công lớn nhất từ trước đến nay khi Quốc hội giao 1,08 triệu tỷ đồng.