hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
Nhập email của bạn để lấy lại mật khẩu
Mạng lưới cao tốc, cảng biển và logistics kết nối liên vùng không chỉ tháo gỡ điểm nghẽn chi phí mà còn mở ra không gian phát triển mới cho nền kinh tế.
Hạ tầng giao thông trong chiến lược phát triển mới của Việt Nam không còn đơn thuần dừng lại ở khái niệm xây dựng đường sá, cầu cảng hay sân bay thông thường. Đây chính là nền tảng cốt lõi mang tính quyết định để tổ chức lại toàn bộ không gian kinh tế quốc gia. Khi các tuyến kết nối liên vùng được hoàn thiện, dòng vốn đầu tư, hàng hóa thương mại, lực lượng lao động và các dịch vụ bổ trợ sẽ dịch chuyển với tốc độ nhanh hơn, kích hoạt các cực tăng trưởng mới cho cả địa phương lẫn khối doanh nghiệp

Theo ông Nguyễn Hữu Vinh, Tổng giám đốc Công ty TNHH Nhật Quang, việc nhiều địa phương đẩy mạnh mở rộng hạ tầng giao thông, phát triển đô thị và kết nối liên vùng là tín hiệu rất tích cực, bởi các nỗ lực này đang dần được tích hợp trong một chiến lược tổng thể mang tầm quốc gia. Đây là động lực quan trọng để các địa phương tiến gần hơn tới mục tiêu tăng trưởng hai con số.
Tuy nhiên, ông Vinh cũng lưu ý rằng để hạ tầng thực sự trở thành động lực tăng trưởng mạnh mẽ, các địa phương cần chủ động tháo gỡ những điểm nghẽn lớn về nguồn lực đầu tư, tính đồng bộ của hệ thống hạ tầng và chất lượng dịch vụ logistics đi kèm. Hệ thống giao thông ở không ít khu vực hiện nay vẫn thiếu tính liên thông nghiêm trọng; sự kết nối giữa đường bộ, cảng biển, sân bay, khu công nghiệp và trung tâm logistics còn nhiều hạn chế, trực tiếp làm tăng chi phí và giảm hiệu quả khai thác của doanh nghiệp.
Ở góc nhìn quy hoạch vĩ mô, ông Võ Quang Hiếu, Chủ tịch HĐQT Công ty TNHH Giao nhận Quốc tế Rồng Vàng, chỉ ra bài học kinh nghiệm từ nhiều quốc gia phát triển trên thế giới. Tại các nền kinh tế lớn, hạ tầng giao thông thường được định vị phải đi trước một bước, sau đó mới hình thành nên các khu đô thị, trung tâm thương mại, dịch vụ hỗ trợ và các chuỗi sản xuất công nghiệp đi kèm. Do đó, Việt Nam cần coi quy hoạch hạ tầng là giải pháp bứt phá mang tính mở đường dài hạn, chứ không chỉ đơn thuần là công cụ tình thế để xử lý tình trạng ùn tắc giao thông cục bộ hay bù đắp sự thiếu kết nối hiện tại.
Ông Hiếu đánh giá Quy hoạch tổng thể quốc gia theo Nghị quyết 81/2023/QH15 của Quốc hội và Quy hoạch hệ thống cảng biển thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 đã mở ra một tầm nhìn chiến lược dài hạn và mang tính đột phá. Khi hệ thống khung và quy hoạch tổng thể đã được phê duyệt nhất quán, vấn đề cốt lõi và cấp bách hiện nay là phải xây dựng được các cơ chế đặc thù đủ mạnh để huy động tối đa nguồn lực xã hội, rút ngắn thời gian triển khai dự án và tạo sự phối hợp chặt chẽ, nhịp nhàng giữa chính quyền địa phương, các chủ đầu tư cùng cộng đồng doanh nghiệp.
Bên cạnh hệ thống đường bộ cao tốc, hạ tầng cảng biển đóng vai trò là một mắt xích then chốt trong việc định hình năng lực cạnh tranh quốc gia trên trường quốc tế. Việc đầu tư dài hạn cho cảng biển không chỉ giúp Việt Nam mở rộng quy mô và năng suất xuất khẩu, mà còn góp phần nâng cao vị thế của đất nước trên bản đồ hàng hải thế giới.

Ở thời điểm hiện tại, nếu không sớm hoàn thiện các cơ chế thu hút đầu tư linh hoạt và thông thoáng, nền kinh tế có thể bỏ lỡ cơ hội vàng để đón làn sóng dịch chuyển chuỗi cung ứng toàn cầu đang diễn ra mạnh mẽ. Để giữ vững và nâng cao vị thế này, hệ thống hạ tầng cảng biển cần tiếp tục giải quyết triệt để các nút thắt về kết nối hậu phương cảng, tối ưu hóa chi phí logistics, đồng thời đẩy nhanh tiến trình chuyển đổi xanh, chuyển đổi số và nâng cao năng lực vận hành theo các tiêu chuẩn quốc tế nghiêm ngặt nhất.
Nhìn từ tác động vĩ mô và động lực từ dòng vốn đầu tư công, TS. Phạm Viết Thuận, Viện trưởng Viện Kinh tế Tài nguyên và Môi trường TP.HCM, nhận định hạ tầng giao thông chính là điều kiện nền tảng của mọi hoạt động phát triển. Các dự án đầu tư công quy mô lớn, đặc biệt là các công trình giao thông trọng điểm, khi được kích hoạt sẽ tạo ra hiệu ứng lan tỏa cực kỳ mạnh mẽ đến hàng loạt ngành nghề phụ trợ trong nền kinh tế.
Việc TP.HCM và các tỉnh thành lân cận đồng loạt khởi công các siêu dự án hạ tầng với tổng giá trị lên đến hàng trăm nghìn tỷ đồng không chỉ mang ý nghĩa xây dựng cơ bản đơn thuần, mà còn được kỳ vọng sẽ tạo ra một cú hích tăng trưởng kinh tế nhảy vọt, mở rộng đáng kể không gian phát triển đô thị.
Theo phân tích sâu hơn của TS. Phạm Viết Thuận, khi các dự án lớn này bước vào giai đoạn triển khai, nhu cầu về nguồn vật liệu xây dựng, dịch vụ vận tải, tư vấn thiết kế, ngành cơ khí chế tạo, lực lượng lao động, dòng vốn tài chính và các dịch vụ hỗ trợ khác sẽ tăng trưởng đột biến. Chuỗi tác động dây chuyền này giúp tạo ra hàng nghìn việc làm mới, nâng cao thu nhập cho người lao động và kích thích trực tiếp sức mua tổng thể trên thị trường nội địa.
Đặc biệt, khi các công trình giao thông, cảng biển và tuyến vành đai mới được hình thành, đầu tàu kinh tế TP.HCM sẽ có thêm cơ hội lớn để giảm tải áp lực giao thông cho khu vực nội đô vốn đã quá tải, rút ngắn thời gian vận chuyển hàng hóa xuất nhập khẩu và kết nối nhanh chóng hơn với các tỉnh trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Đối với cộng đồng doanh nghiệp, đây là cơ sở vững chắc để giảm thiểu chi phí vận hành, nâng cao hiệu quả sản xuất, mở rộng thị trường tiêu thụ và gia tăng sức cạnh tranh trên thị trường quốc tế.
Trong mắt các nhà đầu tư nước ngoài, chất lượng hạ tầng giao thông và mạng lưới kết nối luôn là điều kiện tiên quyết để họ đưa ra quyết định mở rộng quy mô sản xuất, xây dựng các trung tâm logistics quy mô lớn hay đầu tư vào các dự án công nghệ cao mới.
Một đô thị hay một quốc gia sở hữu mạng lưới giao thông thông suốt, kết nối vùng thuận lợi và quỹ đất phát triển mới dồi dào chắc chắn sẽ có sức hút vượt trội hơn nhiều so với một khu vực bị kẹt cứng trong chính những điểm nghẽn hạ tầng của mình. Khi quy hoạch được thực thi nhất quán và nguồn lực được huy động hiệu quả, hạ tầng giao thông sẽ hoàn thành sứ mệnh là bệ phóng vững chắc đưa nền kinh tế hướng tới mục tiêu tăng trưởng hai con số bền vững.