hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
Nhập email của bạn để lấy lại mật khẩu
Nghị định 365/2026/NĐ-CP quy định lại điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo, trong đó yêu cầu thương nhân phải có kho chuyên dùng và cơ sở xay xát đáp ứng quy định. Quy định mới có hiệu lực từ ngày 1/10/2026, đồng thời đặt ra thêm yêu cầu về duy trì điều kiện, dự trữ và báo cáo đối với doanh nghiệp.
Nghị định 365/2026/NĐ-CP về kinh doanh xuất, nhập khẩu gạo được Chính phủ ban hành ngày 23/9/2026 và có hiệu lực từ ngày 1/10/2026. Quy định mới thay thế khung pháp lý trước đây về kinh doanh xuất khẩu gạo, đồng thời xác định rõ hơn điều kiện để thương nhân tham gia hoạt động này.
Theo đó, thương nhân Việt Nam thuộc mọi thành phần kinh tế được kinh doanh xuất khẩu gạo khi đáp ứng đủ điều kiện và được cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo. Doanh nghiệp có vốn đầu tư trực tiếp nước ngoài cũng được kinh doanh xuất khẩu gạo khi được cấp Giấy chứng nhận và tuân thủ quy định của pháp luật Việt Nam cùng các cam kết quốc tế có liên quan.
Và chỉ thương nhân được cấp Giấy chứng nhận mới được nhận ủy thác xuất khẩu gạo. Quy định này đặt trách nhiệm trực tiếp lên doanh nghiệp tham gia hoạt động xuất khẩu, đồng thời hạn chế việc sử dụng năng lực, điều kiện của một thương nhân để thực hiện hoạt động xuất khẩu thông qua thương nhân khác.

Điều kiện cốt lõi đối với thương nhân xuất khẩu gạo là phải có ít nhất một kho chuyên dùng để chứa thóc, gạo và một cơ sở xay xát gạo đáp ứng quy định về an toàn thực phẩm, tiêu chuẩn và quy chuẩn kỹ thuật. Kho và cơ sở xay xát có thể thuộc sở hữu của doanh nghiệp hoặc được thuê từ tổ chức, cá nhân khác bằng hợp đồng bằng văn bản, với thời hạn phù hợp với thời hạn của Giấy chứng nhận.
Quy định này yêu cầu doanh nghiệp xuất khẩu phải chứng minh được năng lực cơ sở vật chất gắn với hoạt động kinh doanh. Việc có kho và cơ sở xay xát không chỉ là điều kiện để được cấp Giấy chứng nhận mà còn phải được duy trì trong quá trình hoạt động.
Doanh nghiệp đã được cấp Giấy chứng nhận cũng không được cho thương nhân khác thuê lại kho hoặc cơ sở xay xát đã được sử dụng để đề nghị cấp Giấy chứng nhận. Cách quy định này nhằm gắn điều kiện kinh doanh với chính thương nhân được cấp phép, thay vì để một cơ sở vật chất được sử dụng làm căn cứ cho nhiều doanh nghiệp cùng đáp ứng điều kiện.
Nghị định cũng chuyển mạnh sang cơ chế tự kê khai, tự chịu trách nhiệm kết hợp hậu kiểm. Theo quy định được công bố, thương nhân tự chịu trách nhiệm về hồ sơ, tài liệu và việc đáp ứng điều kiện kinh doanh; sau khi Bộ Công Thương cấp Giấy chứng nhận, UBND cấp tỉnh nơi thương nhân có kho chuyên dùng chủ trì tổ chức hậu kiểm kho và cơ sở xay xát trong thời hạn 45 ngày.
Đây là điểm doanh nghiệp cần lưu ý khi chuẩn bị hồ sơ và tổ chức hoạt động xuất khẩu. Điều kiện kê khai không dừng ở giấy tờ mà sẽ được kiểm tra trên thực tế, vì vậy doanh nghiệp phải duy trì đúng năng lực đã đăng ký trong suốt quá trình kinh doanh.
Nghị định cũng có quy định riêng đối với một số dòng sản phẩm. Thương nhân xuất khẩu gạo hữu cơ, gạo đồ và gạo bổ sung vi chất dinh dưỡng không phải đáp ứng các điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo nói trên, không phải có Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh xuất khẩu gạo, không phải thực hiện dự trữ lưu thông và không phải thực hiện trách nhiệm báo cáo theo quy định tương ứng.
Đối với hoạt động nhập khẩu, thương nhân kinh doanh nhập khẩu gạo phải thông báo kế hoạch nhập khẩu với Bộ Công Thương. Trong vòng 45 ngày kể từ khi Nghị định có hiệu lực, doanh nghiệp đang kinh doanh nhập khẩu gạo phải thực hiện đăng ký kế hoạch nhập khẩu theo quy định mới.
Nghị định 365/2026/NĐ-CP không chỉ đặt điều kiện đầu vào mà còn gắn quyền kinh doanh với trách nhiệm duy trì các điều kiện trong quá trình hoạt động. Bộ Công Thương có thể thu hồi Giấy chứng nhận trong nhiều trường hợp, trong đó có việc doanh nghiệp không còn đáp ứng điều kiện kinh doanh, kê khai không đúng thực tế về kho hoặc cơ sở xay xát, không duy trì mức dự trữ thóc, gạo, không thực hiện đúng trách nhiệm báo cáo hoặc không đứng tên trên tờ khai hàng hóa xuất khẩu trong 12 tháng liên tục, trừ trường hợp đã thông báo tạm ngừng kinh doanh.
Giấy chứng nhận cũng có thể bị thu hồi khi doanh nghiệp giải thể, phá sản hoặc bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh, đăng ký doanh nghiệp, đăng ký đầu tư; doanh nghiệp chủ động đề nghị thu hồi hoặc thuộc trường hợp theo đề xuất của cơ quan chức năng có thẩm quyền.

Đáng chú ý, nếu sau 45 ngày kể từ khi Bộ Công Thương ban hành văn bản đôn đốc mà doanh nghiệp vẫn không thực hiện trách nhiệm báo cáo, Giấy chứng nhận cũng có thể bị xem xét thu hồi. Điều này cho thấy nghĩa vụ báo cáo không còn là yêu cầu mang tính thủ tục mà trở thành một phần trong điều kiện duy trì quyền kinh doanh.
Về chuyển tiếp, thương nhân đã được cấp Giấy chứng nhận theo Nghị định 107/2018/NĐ-CP và Nghị định 01/2025/NĐ-CP được tiếp tục hoạt động theo thời hạn của Giấy chứng nhận đã cấp, không phải đề nghị cấp lại theo Nghị định mới, trừ trường hợp có nhu cầu cấp lại, sửa đổi hoặc bổ sung.
Quy định chuyển tiếp giúp doanh nghiệp đang hoạt động có thời gian thích ứng với khung pháp lý mới, đồng thời tránh tạo ra khoảng trống đối với các giấy chứng nhận còn hiệu lực.
Một nội dung khác được áp dụng theo lộ trình là đánh giá mức độ tín nhiệm của thương nhân xuất khẩu gạo, bắt đầu từ ngày 1/1/2028. Đây sẽ là một cơ chế bổ sung vào quá trình quản lý hoạt động xuất khẩu gạo theo Nghị định mới.
Với doanh nghiệp, trước mắt cần rà soát lại điều kiện cơ sở vật chất, hồ sơ pháp lý, hợp đồng thuê kho hoặc cơ sở xay xát, năng lực dự trữ và chế độ báo cáo trước thời điểm Nghị định có hiệu lực. Về lâu dài, việc duy trì điều kiện kinh doanh phải được xem là một phần của quản trị hoạt động xuất khẩu, thay vì chỉ tập trung hoàn thiện hồ sơ để được cấp Giấy chứng nhận.