Thứ sáu, 23/05/2025 10:55 (GMT+7)

Dệt may trong bối cảnh thuế đối ứng mới của Mỹ 

TS.Nguyễn Minh Phong

Theo dự báo Bloomberg, chính sách thuế mới của Mỹ nêu trên nếu khong đổi sẽ kéo giảm GDP Việt Nam tổng cộng khoảng 8,9% đến năm 2030, tức là bình quân 1,5 - 2% một năm, từ mức dự kiến tăng 7-8% GDP của 2025 xuống còn khoảng 5 - 6,5% GDP hoặc thấp hơn. 

 

Ảnh minh hoạ. Nguồn: IT
Ảnh minh hoạ. Nguồn: IT



Ngày 9/4, Ngân hàng Phát triển châu Á (ADB) đã công bố về triển vọng kinh tế Việt Nam tăng trưởng 6,6% trong năm 2025 và 6,5% trong năm 2026; Đồng thời, lưu ý việc Hoa Kỳ công bố áp thuế gần đây, cùng những bất ổn toàn cầu đang tiếp diễn, có thể đặt ra các thách thức đáng kể cho tăng trưởng của Việt Nam trong năm 2025.


Theo Bộ trưởng Bộ Công Thương diện thuế áp dụng rộng với mức 46% sẽ tác động trực tiếp đến xuất khẩu và mục tiêu tăng trưởng kinh tế, có thể làm sụt giảm từ 30–40 tỷ USD đối với 16 nhóm mặt hàng xuất khẩu chủ lực của Việt Nam chiếm khoảng 91–92% tổng kim ngạch xuất khẩu của Việt Nam vào Hoa Kỳ và khiến sức cạnh tranh của các doanh nghiệp FDI tại Việt Nam giảm sút. Bên cạnh đó, các vấn đề điều hành chính sách tiền tệ, tỷ giá sẽ trở nên gay gắt và phức tạp hơn.


Thuế quan mới từ Mỹ có thể tác động tiêu cực toàn diện đến nhiều mặt hoạt động như tín dụng, huy động vốn hay dịch vụ ngân hàng. Nợ xấu có thể tăng trong các con nợ thuộc ngành nghề có nguy cơ chịu ảnh hưởng lớn bao gồm thép, cơ khí, nhựa, thủy sản, dệt may, phương tiện vận tải, máy tính và bất động sản công nghiệp. Nhu cầu vay vốn sẽ sụt giảm khi các doanh nghiệp xuất khẩu bị đình trệ, buộc phải cắt giảm sản xuất. Hoạt động huy động vốn từ các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài (FDI) cũng sẽ bị ảnh hưởng, bởi phần lớn lượng tiền gửi của nhóm này là ngoại tệ. Chất lượng tín dụng giảm sút dẫn tới ngân hàng phải tăng trích lập dự phòng và làm giảm lợi nhuận. 


Ngoài ra, việc giảm xuất khẩu sang Mỹ có thể gây áp lực về giảm xuất siêu, giảm nguồn thu ngoại tệ xuất khẩu và gia tăng áp lực lên tỷ giá, việc làm, thu nhập và an sinh xã hội trong thời gian trước mắt… Điều này phụ thuộc vào khả năng đàm phán, kích thích tiêu dùng nội địa và đầu tư công, cùng khả năng phản ứng chính sách và phản ứng thị trường linh hoạt và hiệu quả của Chính phủ và doanh nghiệp.


Với kim ngạch xuất khẩu thủy sản hàng năm khoảng 2 tỷ USD, Hoa Kỳ chiếm 1/5 giá trị xuất khẩu thủy sản của Việt Nam, thị trường này đang không chỉ giữ thị phần số 1 (về tôm, cá ngừ, số 2 của cá tra), mà còn có tính định hướng cao đối với ngành thủy sản Việt Nam; trong đó, 70% các sản phẩm xuất khẩu là thủy sản nuôi trồng (tôm, cá tra, nhuyễn thể, cá nước ngọt khác) và 30% sản phẩm xuất khẩu là từ hải sản khai thác - là sinh kế, nguồn sống của hàng trăm ngàn ngư dân và nông dân Việt Nam. Hiện nay, có hơn 400 doanh nghiệp Việt Nam đang xuất khẩu và có kế hoạch xuất thủy sản sang thị trường Hoa Kỳ với những đơn hàng lớn, giá trị cao, phương thức vận chuyển hàng thủy sản chủ yếu là DDP (giao hàng tận kho) khi xuất khẩu sang Mỹ, nghĩa là doanh nghiệp Việt Nam phải trả toàn bộ chi phí (vận chuyển, bảo hiểm, thuế) trước khi giao hàng và chờ thanh toán từ đối tác Mỹ. Do vậy, mức thuế mới khiến cho doanh nghiệp thủy sản Việt Nam hoang mang lo ngại về khả năng mất thị trường lớn này và cả những thiệt hại to lớn với nhiều lô hàng đang trên đường vận chuyển tới Mỹ có thể bị áp mức thuế cao 46%.


Trong bối cảnh đó, dệt may là một trong những ngành chịu ảnh hưởng nặng nề nhất từ chính sách thuế mới của Mỹ do Mỹ là thị trường xuất khẩu dệt may lớn nhất trong số gần 104 thị trường xuất khẩu của Việt Nam, chiếm 44% tổng kim ngạch xuất khẩu toàn ngành (năm 2024, kim ngạch xuất khẩu dệt may sang Mỹ đạt hơn 16 tỷ USD, tăng 12% so với năm 2023. Đây là mặt hàng xuất khẩu lớn thứ ba sang Mỹ, chiếm 16,5% tổng kim ngạch xuất khẩu cả nước; trong 2 tháng đầu năm 2025, xuất khẩu dệt may sang Mỹ tiếp tục tăng trưởng 9,3% so với cùng kỳ, đạt hơn 5,63 tỷ USD; Dự kiến tháng 3 có thể đạt thêm 4 tỷ USD). Một số doanh nghiệp dệt may hiện có tỷ trọng xuất khẩu lớn sang Mỹ bao gồm May Sông Hồng (MSH) với 80% doanh thu đến từ thị trường này, TNG (TNG) chiếm 46%, Tập đoàn Dệt may Việt Nam (VGT) 35% và Dệt may Thành Công (TCM) 25%. Hầu hết các hợp đồng xuất khẩu của Việt Nam với các nhà mua hàng Mỹ đều theo điều khoản CIF (Cost, Insurance and Freight), nghĩa là doanh nghiệp bán chịu trách nhiệm vận chuyển và chi phí cho đến khi hàng hóa đến cảng đích.


Với mức thuế mới cao tới 46%, ngành dệt may Việt Nam có thể đối mặt với nguy cơ mất lợi thế cạnh tranh, gia tăng chi phí, sụt giảm đơn hàng, giảm giá hợp đồng và buộc phải giãn sản xuất, giãn lao động, giảm sút lợi nhuận và gặp khó khăn lớn trong duy trì thị phần tại Mỹ, đặc biệt là những công ty phụ thuộc lớn vào xuất khẩu.  Mức thuế cao còn ảnh hưởng lớn đến thu hút đầu tư vào nguồn cung thiếu hụt của dệt may Việt Nam là dệt vải và nhuộm để đáp ứng quy tắc xuất xứ các hiệp định thương mại. 


Ngay sau khi Mỹ công bố chính sách thuế mới, Thường trực Chính phủ đã họp với các bộ ban ngành để đánh giá tình hình và thảo luận tìm ra giải pháp trước mắt. Thủ tướng Chính phủ yêu cầu thành lập ngay tổ phản ứng nhanh để lắng nghe các ý kiến từ các doanh nghiệp xuất khẩu, chủ động ứng phó để giảm thiểu tác động và thúc đẩy  tái cơ cấu nền kinh tế theo hướng bền vững, đổi mới sáng tạo, đẩy mạnh nội địa hóa và mở rộng chuỗi cung ứng toàn cầu, kiên định mục tiêu tăng trưởng GDP từ 8% trở lên vào năm 2025.

 

Ảnh minh hoạ. Nguồn: IT
Ảnh minh hoạ. Nguồn: IT


Đặc biệt, tối 3/4, Tổng Bí thư Tô Lâm đã có cuộc điện đàm với Tổng thống Hoa Kỳ, trong đó đưa ra thông điệp: Việt Nam sẵn sàng trao đổi với Hoa Kỳ để đưa mức thuế nhập khẩu hàng hóa từ Hoa Kỳ về 0%, đồng thời đề nghị Hoa Kỳ áp dụng mức thuế tương tự đối với hàng hóa nhập khẩu từ Việt Nam; tiếp tục khuyến khích, tạo điều kiện để Việt Nam mua hàng hóa của Hoa Kỳ theo nhu cầu; đồng thời tạo môi trường thuận lợi hơn nữa để các doanh nghiệp Hoa Kỳ đầu tư tại Việt Nam. 


Đồng thời, Bộ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Hồng Diên đã có công hàm đề nghị phía Mỹ tạm hoãn quyết định áp thuế để dành thời gian trao đổi, tìm giải pháp hợp lý cho cả hai bên. Bộ Công Thương đang thu xếp một cuộc điện đàm giữa hai bộ trưởng, cũng như ở cấp kỹ thuật với các đồng nghiệp tại Cơ quan đại diện thương mại Hoa Kỳ (USTR) trong thời gian sớm nhất.


Đêm 5/4, Phó Thủ tướng Hồ Đức Phớc cũng lên đường công tác tại Hoa Kỳ với tinh thần thần 'Dĩ bất biến, ứng vạn biến'" đàm phán đưa mức thuế về 0% đối với hàng hóa nhập từ Mỹ và đề nghị Mỹ áp mức thuế tương tự. Danh sách mua hàng do Chính phủ quyết định. 


Trước mắt, cùng với việc tiếp tục tạo ra cơ chế ưu đãi hơn nữa cho các doanh nghiệp Việt Nam tăng nội lực và năng lực cạnh tranh, Chính phủ cần chủ động thúc đẩy đàm phán song phương với chính quyền Mỹ đối với mặt hàng xuất khẩu chính của Việt Nam và lưu ý thực tế hầu hết mặt hàng xuất khẩu của Việt Nam sang Mỹ không cạnh tranh với hàng nội địa của họ, và cũng không thuộc ngành hàng Mỹ muốn thúc đẩy phát triển; đề nghị Hoa Kỳ bổ sung thêm các sản phẩm chưa tính đến trong công thức tính thuế đối ứng, như: sản phẩm trí tuệ, sản phẩm số, dịch vụ trực tuyến, dịch vụ giải trí và dịch vụ học tập, du lịch, y tế... ; hỗ trợ doanh nghiệp Việt Nam mở rộng đầu tư sang Hoa Kỳ; tăng khả năng cung cấp các mặt hàng mà Mỹ cần và thúc đẩy tăng nhập khẩu từ Mỹ để sớm cải thiện cán cân thương mại, do đó, tạo động lực cải thiện giảm thuế đối ứng với Hoa Kỳ. 


Việt Nam cũng có thể tạo điều kiện thuận lợi hơn cho doanh nghiệp Mỹ đầu tư vào các ngành chiến lược, như năng lượng tái tạo, công nghệ bán dẫn, hoặc sản xuất linh kiện điện tử…


Theo Báo cáo về rào cản thương mại nước ngoài năm 2024 của Văn phòng Đại diện Thương mại Mỹ (USTR), mức thuế MFN (tối huệ quốc) trung bình của Việt Nam là 9,4%; với hàng nông nghiệp là 17,1%; với hàng phi nông nghiệp là 8,1%; trong khi Mỹ chỉ áp dụng mức thuế quan chung với Việt Nam là 3,3%). Do đó, Việt Nam còn dư địa để cắt giảm thêm thuế quan, thậm chí đưa về 0% nếu đạt thoả thuận như đề nghị của lãnh đạo Nhà nước.


Đồng thời, Nghị định 73/NĐ-CP  hôm 31/3/2025 được ban hành đã giúp giảm thuế MFN (mức thuế áp dụng cho các nước trong Tổ chức Thương mại thế giới - WTO) với các ngành hàng Mỹ có lợi thế xuất khẩu như khí hóa lỏng (LNG), ôtô, nông sản. Cùng với việc cắt giảm thuế nhập khẩu đối với một số sản phẩm của Hoa Kỳ, bao gồm khí tự nhiên hóa lỏng (LNG), ô tô và phê duyệt dịch vụ Starlink…,  Việt Nam cũng nên cân nhắc, sớm triển khai ưu tiên nhập khẩu từ Hoa Kỳ một số sản phẩm hàng hoá và dịch vụ trong: Nông sản và thực phẩm (thịt bò và thịt heo; trái cây tươi và sản phẩm sữa); Sản phẩm công nghệ và phần mềm (hệ điều hành, bộ ứng dụng văn phòng và công cụ phát triển phần mềm giúp nâng cao chất lượng và hỗ trợ chuyển đổi số tại Việt Nam); Dịch vụ lưu trữ đám mây từ các công ty lớn như Amazon Web Services (AWS), Google Cloud, và Microsoft Azure cung cấp các giải pháp công nghệ tiên tiến; Dịch vụ quảng cáo trực tuyến trên Google, YouTube và Facebook; Sản phẩm công nghiệp và thiết bị y tế, dược phẩm; Hóa chất công nghiệp chất lượng cao; Dịch vụ tài chính, bảo hiểm và các sản phẩm giáo dục và giải trí; tăng cường hợp tác quốc phòng, mua sắm thiết bị quân đảm bảo xuất xứ từ Hoa Kỳ….


Hiện cuộc đàm phán cấp Chính phủ vẫn chưa ngã ngũ (phương án kỳ vọng nhất đối với cộng đồng doanh nghiệp là thuế nhập khẩu mới của Mỹ chỉ tăng 8-10%), theo chỉ đạo của Thủ tướng, các cơ quan chức năng và doanh nghiệp cần chủ động và kịp thời nắm chắc tình hình, giữ bản lĩnh, sự sáng suốt, sự sáng tạo, khôn khéo trong điều hành trong quản lý; kiên định, kiên trì về những nguyên tắc cơ bản; bảo vệ cái nền kinh tế độc lập tự chủ, nhưng tích cực chủ động hội nhập quốc tế sâu rộng thực chất và hiệu quả; Tiếp tục thúc đẩy tái cơ cấu nền kinh tế theo hướng nhanh, bền vững; xanh; số hóa, kinh tế sáng tạo, kinh tế tuần hoàn; tái cơ cấu sản phẩm, tái cơ cấu chuỗi cung ứng, tập trung vào thị trường tiềm năng... phấn đấu giữ mục tiêu tăng trưởng của năm nay là 8% trong năm nay và 2 con số những năm tiếp theo.


Đặc biệt, mặc dù Mỹ hoãn áp mức thuế đối ứng 46% trong 90 ngày nhưng vẫn áp thuế bổ sung 10%. Đối với hàng may mặc Việt Nam xuất khẩu vào Mỹ hiện đang được áp thuế tối huệ quốc (MFN) khoảng 18%, nay cộng thêm 10% mức thuế sẽ lên 28%. Bởi vậy, các doanh nghiệp cần tập trung quản lý rủi ro, tận dụng thời gian 90 ngày tạm dừng áp thuế đối ứng 46% để thúc đẩy xuất khẩu vào Mỹ, chủ động nắm bắt, đàm phán với khách hàng để chia sẻ rủi ro về mức thuế 10% hiện tại, cũng như các vấn đề về thuế sau thời hạn 90 ngày để điều tiết chi phí sản xuất sao cho hiệu quả nhất; theo dõi tình hình các đơn hàng đã ký kết, tỉnh táo từ chối các đơn hàng đối tác đưa ra điều khoản DDP (người bán chịu mọi chi phí, hàng giao tận kho Mỹ), bởi nguy cơ hoãn, hủy đơn hàng hay chậm thanh toán, cũng như rủi ro tăng thuế đều có thể ảnh hưởng đến dòng tiền của doanh nghiệp; chủ động liên hệ với khách hàng để thông báo và có những phản ứng kịp thời đối với các thay đổi từ phía thị trường; đồng thời, tăng cường khai thác thị trường nội địa, tăng nội địa hóa nguyên liệu, chuyển đổi số, nâng cao giá trị sản phẩm, cải thiện chất lượng và đẩy mạnh sản xuất xanh theo tiêu chuẩn quốc tế, tối ưu hóa quy trình, nâng cao năng suất và tiết giảm chi phí… nỗ lực đáp ứng kịp yêu cầu mới của các nhãn hàng lớn; tăng khả năng thích nghi nhanh và đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững trong giai đoạn này.


Trong bối cảnh phức tạp đan xen các xu hướng thương mại tự do hóa, bảo hộ và gia tăng cường rào cản kỹ thuật, rào cản thương mại của các thị trường lớn, cộng đồng doanh nghiệp cần làm quen và chuyển từ trạng thái "thuế nhập khẩu nguyên liệu cao" sang "thuế nhập khẩu thành phẩm cao"; vừa tăng cường năng lực phòng vệ thương mại, vừa chuyển đổi mạnh sang sản xuất FOB (chủ động nguyên liệu, hoàn thiện sản phẩm) để các khách hàng cùng chia sẻ về thuế, đẩy mạnh việc khai thác các thị trường tiềm năng thông qua FTA và tích cực tìm kiếm thị trường mới, mở rộng tệp khách hàng để giảm bớt sự phụ thuộc vào Mỹ; tăng cường thông tin và đảm bảo nguồn gốc xuất xứ nguyên liệu giúp phân biệt rõ ràng giữa hàng hóa xuất xứ Việt Nam và những sản phẩm của nước khác "mượn" Việt Nam để xuất khẩu sang Mỹ…


Theo số liệu từ Văn phòng Dệt may Mỹ (OTEXA), Việt Nam hiện là nước xuất khẩu dệt may lớn thứ hai vào thị trường Mỹ, chỉ sau Trung Quốc, cho cả sản phẩm dệt may từ sợi nhân tạo và sợi cotton. Dù thị phần khối lượng xuất khẩu của Việt Nam (17-19%) nhỏ hơn nhiều so với Trung Quốc (43-46%), nhưng nếu xét theo thị phần trị giá xuất khẩu, Việt Nam không hề thua kém. Điều này mở ra cơ hội thu hút thêm đơn hàng, nhất là trong bối cảnh hàng Trung Quốc đang chịu mức thuế cao hơn.


Về lâu dài, ngành dệt may Việt Nam cần thực hiện chiến lược cụ thể với 3 trụ cột: Đa dạng hóa thị trường khách hàng và sản phẩm; làm chủ công nghệ thúc đẩy khả năng thích ứng; chủ động thích ứng về thuế quan cũng như các chính sách mới về môi trường, pháp luật; xây dựng thương hiệu, nhãn hàng riêng và củng cố các chuỗi liên kết chặt chẽ hơn nữa…


Tài liệu tham khảo:
1/. https://dttc.sggp.org.vn/ong-trump-nang-thue-hang-trung-quoc-len-muc-khong-tuong-245-post122060.html;
2/. https://baotintuc.vn/phan-tichnhan-dinh/cuoc-chien-thuong-mai-mytrung-se-anh-huong-the-nao-den-nen-kinh-te-the-gioi-20250409130300516.htm
3/. https://baotintuc.vn/phan-tichnhan-dinh/trung-quoc-se-hanh-dong-nhu-the-nao-voi-chinh-sach-thue-quan-moi-cua-my-20250403181617759.htm
4/. https://baotintuc.vn/the-gioi/tuyen-bo-moi-nhat-cua-bo-ngoai-giao-trung-quoc-ve-viec-my-ap-thue-bo-sung-20250409084147015.htm;
5/. https://vnexpress.net/doanh-nghiep-det-may-xoay-xo-giua-bao-thue-cua-ong-trump-4870840.html;
6/. https://tuoitre.vn/det-may-van-xuat-khau-tot-mot-doanh-nghiep-bao-lai-tang-gan-50-lan-20250425153214376.htm

 

Tags: