hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
Nhập email của bạn để lấy lại mật khẩu
Đứng thứ 2 thế giới về trữ lượng, đến nay ngành công nghiệp đất hiếm của Việt Nam vẫn ở quy mô nhỏ, lẻ, hầu như chưa có công nghiệp sử dụng đất hiếm. Do đó, ngày 18/10, Viện Hàn lâm Khoa học và Công nghệ Việt Nam đã phối hợp với Bộ Khoa học và Công nghệ tổ chức Hội thảo “Đất hiếm Việt Nam: Thực trạng công nghệ khai thác, chế biến và triển vọng”.
Nội dung của hội thảo được các nhà khoa học, chuyên gia tập trung thảo luận các vấn đề như: Tiềm năng thực sự của đất hiếm; giá trị giao dịch đất hiếm; những tác động xấu trong chế biến đất hiếm đến môi trường, môi sinh và những kiến nghị với Đảng và Nhà nước về đất hiếm. Các nhà khoa học đề xuất chế biến đến các nguyên tố đặc biệt có giá trị cao như Pr, Nd, đồng thời xây dựng trung tâm nghiên cứu chuyển giao nhằm làm chủ phát triển công nghệ lõi trong việc chế biến quặng đất hiếm.
Theo các báo cáo đánh giá, trữ lượng đất hiếm của Việt Nam khoảng 22 triệu tấn, các mỏ ở Việt Nam có quy mô từ trung bình đến lớn chủ yếu phân bố ở các tỉnh Tây Bắc như: Lào Cai, Yến Bái và Lai Châu.
Ngày 18/7/2023, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 866/QĐ-TTg về việc phê duyệt Quy hoạch thăm dò, khai thác, chế biến và sử dụng các loại khoáng sản thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 (gọi tắt là Quy hoạch khoáng sản), trong đó định hướng phát triển ngành công nghiệp khai thác, chế biến và sử dụng khoáng sản đất hiếm một cách đồng bộ, hiệu quả và bền vững. Đối với các doanh nghiệp được cấp phép mới khai thác khoáng sản đất hiếm phải có dự án chế biến đến sản phẩm tối thiểu là tổng các (ô -xit hydroxit, muối) đất hiếm có hàm lượng TREO ≥ 95%, khuyến khích sản xuất tới nguyên tố đất hiếm riêng rẽ (REO), công nghệ tiên tiến, thiết bị hiện đại, thu hồi tối đa các khoáng sản có ích đi kèm, đảm bảo môi trường, an toàn về phóng xạ.
Hiện, Việt Nam chưa làm chủ được công nghệ chế biến đất hiếm, chưa chế biến được các sản phẩm thủy luyện và chiết tác các oxit đất hiếm riêng rẽ phục vụ nhu cầu trong nước và nước ngoài.
Ông Đỗ Nam Bình – Trưởng phòng Khoáng sản luyện kim - Cục Công nghiệp (Bộ Công Thương) cho biết: Việt Nam mới chỉ dừng lại ở công đoạn chế biến tinh quặng đất hiếm có hàm lượng khoảng 30%, chưa thể chế biến được các sản phẩm thủy luyện và chiết tách các ô-xít đất hiếm riêng rẽ phục vụ nhu cầu trong và ngoài nước.
Phát biểu tại hội thảo, GS Nguyễn Quang Liêm, nguyên Viện trưởng Viện Khoa học Vật liệu, Viện Hàn lâm khoa học và công nghệ Việt Nam cho biết, việc khai thác còn nhỏ lẻ ở một số mỏ như Nậm Xe, Đông Pao (Lai Châu), mỏ Yên Phú (Yên Bái) và và hầu như chưa có công nghiệp sử dụng đất hiếm. Trong khi đó, lợi nhuận kinh tế cao phần lớn ở các ứng dụng đất hiếm, những nước sử dụng đất hiếm nhiều nhất gồm Trung Quốc, Mỹ, Nhật Bản, EU và Hàn Quốc”.
Do đó để làm chủ đất hiếm, ông Liêm cho rằng cần triển khai xây dựng dự án và phòng thí nghiệm nâng cao năng lực nghiên cứu, công nghệ khai thác chế biến, trong đó tập trung chế biến sâu và ứng dụng đất hiếm trong những sản phẩm công nghiệp có giá trị kinh tế cao.
Phân tích về các cơ hội, lợi thế cũng như hiệu quả của quá trình công nghiệp đất hiếm tại Việt Nam, GS.TS Nguyễn Quang Liêm chỉ rõ, hiện đất hiếm đang được sử dụng để sản xuất tua-bin gió, nam châm… phục vụ cho công nghiệp năng lượng tái tạo, giao thông xanh (xe điện). Như vậy dự kiến nhu cầu đất hiếm làm nam châm của thị trường thế giới sẽ tăng vọt gấp đôi vào năm 2030, gấp 4 lần vào năm 2050 sau đó nhu cầu sẽ sụt giảm sâu do đến thời điểm này sẽ chuyển sang phát triển công nghệ tái chế, vật liệu thay thế.
Một điều nhận thấy thị trường đất hiếm trên thế giới giá trị chưa đến 10 tỷ USD/năm, trong khi thị trường dầu mỏ xấp xỉ 2.000 tỷ USD (năm 2022). Đặc biệt, khai thác và chế biến đất hiếm không mang lại hiệu quả cao. Bình thường để tiến hành khai thác một mỏ đất hiếm mất khoảng 10 năm để hoàn thiện các hồ sơ, thủ tục. Đến khi được khai thác thì tiêu tốn quá nhiều năng lượng và ô nhiễm môi trường do phải chặt cây, đào quặng thô, đến khi chế biến quặng tinh lại sử dụng quá nhiều hóa chất dẫn đến nguy cơ gây ô nhiễm môi trường, giá trị kinh tế mang lại không cao. Tại công đoạn tách các nguyên tố từ quặng tinh ra thì càng sử dụng nhiều hóa chất độc hại trong khi lợi nhuận cũng không đáng kể.
Trong cả chuỗi sản xuất đất hiếm phần mang lại giá trị kinh tế cao nhất là ứng dụng đất hiếm trong sản xuất các nam châm vĩnh cửu, tua bin gió, động cơ ô tô điện- đây cũng là công đoạn ít tác động đến môi trường nhất.
Từ các phân tích trên, GS.TS Nguyễn Quang Liêm đề nghị, cần triển khai xây dựng các dự án và phòng thí nghiệm nâng cao năng lực nghiên cứu; công nghệ khai thác chế biến; đánh giá tác động môi trường; xử lý hoàn nguyên môi trường sau khai thác và chế biến sâu đất hiếm; đặc biệt ứng dụng đất hiếm trong những sản phẩm công nghiệp có giá trị kinh tế cao.