Đằng sau những cuộc rút lui của doanh nghiệp

Hùng Minh

Hơn 40.800 doanh nghiệp hoàn tất giải thể trong tám tháng đầu năm 2026, tăng 125,5% so với cùng kỳ. Phía sau mức tăng ấy là cả những quyết định dừng kinh doanh và hồ sơ tồn đọng nay mới được xử lý. Đáng chú ý, có doanh nghiệp đã ngừng hoạt động hơn một thập kỷ nhưng vẫn phải chi hàng chục, thậm chí gần trăm triệu đồng để thu xếp việc chấm dứt tồn tại. Câu chuyện đặt ra yêu cầu nhìn đúng sức khỏe doanh nghiệp, đồng thời tháo gỡ những vướng mắc ở lối ra của thị trường.

Không thể đọc sức khỏe doanh nghiệp bằng một con số

Theo báo cáo kinh tế - xã hội tháng Tám và tám tháng năm 2026 của Cục Thống kê, riêng tháng 8 có 9.631 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể, tăng 151,2% so với cùng kỳ năm trước. Lũy kế tám tháng, số hoàn tất giải thể vượt 40.800 doanh nghiệp, tăng 125,5%. Tuy nhiên, hai nhóm khác thuộc diện rút lui lại giảm: hơn 88.000 doanh nghiệp tạm ngừng kinh doanh có thời hạn, giảm 7,3%; gần 28.600 doanh nghiệp ngừng hoạt động chờ giải thể, giảm 40,3%.

Ở chiều gia nhập, gần 206.400 doanh nghiệp thành lập mới và quay lại hoạt động trong tám tháng, giảm 1,4% so với cùng kỳ. Các chiều biến động khác nhau cho thấy không thể lấy riêng số hoàn tất giải thể tăng mạnh để mô tả toàn bộ thị trường. Cũng không thể gọi tất cả doanh nghiệp tạm ngừng, chờ giải thể hoặc đã giải thể là doanh nghiệp phá sản.

Một phần lời giải nằm ở việc xử lý dữ liệu thuế. Theo thông tin Cục Thuế được VietnamPlus dẫn ngày 9/9, trong tám tháng, ngành Thuế hoàn tất chấm dứt hiệu lực mã số thuế cho 94.991 doanh nghiệp, tổ chức. Trong đó, 23.017 trường hợp đề nghị chấm dứt trong năm 2026; 71.974 trường hợp có hồ sơ nộp từ năm 2025 trở về trước, được xử lý trong chiến dịch làm sạch mã số thuế.

Như vậy, khoảng ba phần tư số hồ sơ chấm dứt mã số thuế được xử lý thuộc về những năm trước. Đây là tỷ lệ tính từ dữ liệu của ngành Thuế, không phải tỷ lệ doanh nghiệp “đã ngừng hoạt động từ lâu” trong số hơn 40.800 doanh nghiệp giải thể. Hai tập số liệu có phạm vi và tiêu chí khác nhau, không thể thay thế hoặc cộng vào nhau. Thời điểm hoàn thành thủ tục cũng không nhất thiết trùng thời điểm doanh nghiệp thực sự ngừng kinh doanh.

Luật sư Hoàng Hữu Phúc, Công ty Luật TNHH An Phước, Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội

Luật sư Hoàng Hữu Phúc, Công ty Luật TNHH An Phước, Đoàn Luật sư thành phố Hà Nội, lưu ý: “Việc doanh nghiệp đóng cửa hoặc không phát sinh doanh thu không tự động làm chấm dứt tư cách pháp lý của doanh nghiệp”. Theo ông, ngừng hoạt động trên thực tế, chấm dứt hiệu lực mã số thuế, giải thể và phá sản là những trạng thái cần được phân biệt khi đánh giá tình hình doanh nghiệp.

Luật sư phân tích, giải thể là cơ chế chấm dứt tồn tại theo Luật Doanh nghiệp. Điều kiện cốt lõi tại Điều 207 là doanh nghiệp phải bảo đảm thanh toán hết các khoản nợ, nghĩa vụ tài sản khác và không đang trong quá trình giải quyết tranh chấp tại tòa án hoặc trọng tài. Phá sản là cơ chế tư pháp, gắn với tình trạng mất khả năng thanh toán và quyết định tuyên bố phá sản của tòa án. Chấm dứt hiệu lực mã số thuế thuộc quan hệ quản lý thuế, không thể mặc nhiên coi là đã hoàn thành giải thể.

Việc xử lý hồ sơ cũ vì thế giúp giải thích biến động thống kê, nhưng chưa trả lời đầy đủ câu hỏi về sức chống chịu của những doanh nghiệp đang kinh doanh. Theo số liệu được VnEconomy tổng hợp, tám tháng có gần 138.100 doanh nghiệp thành lập mới, tăng 7,7%; vốn đăng ký tăng 36,2%, trong khi lao động đăng ký giảm 15,4%, còn gần 657.700 người. Đây là lao động đăng ký của doanh nghiệp mới, không phải số lao động thực tế của toàn bộ khu vực doanh nghiệp.

Chênh lệch giữa vốn và lao động cần được theo dõi, nhưng chưa đủ để kết luận doanh nghiệp đã chuyển mạnh sang tự động hóa hay đang đồng loạt thu hẹp tuyển dụng. Tương tự, số giải thể tăng không tự chứng minh sức mua suy giảm là nguyên nhân chính. Muốn xác định sức ép nằm ở đâu, cần thêm dữ liệu về đơn hàng, dòng tiền, nợ đến hạn và kết quả kinh doanh, thay vì suy nguyên nhân từ một thủ tục được hoàn tất.

Một quyết định rút lui có thể là kết thúc của mô hình không hiệu quả, cũng có thể thuộc kế hoạch sắp xếp lại hoạt động. Điều cần làm rõ là doanh nghiệp nào đang thực sự gặp khó, doanh nghiệp nào còn cơ hội phục hồi và doanh nghiệp nào chỉ còn tồn tại trên hồ sơ. Nếu không phân biệt, chính sách hỗ trợ dễ nhắm vào số lượng pháp nhân thay vì hoạt động sản xuất, kinh doanh cần được duy trì.

Cái giá của một doanh nghiệp bị bỏ quên

Khoảng cách giữa ngừng kinh doanh và chấm dứt tồn tại hiện rõ trong trường hợp ông H.V., được Tuổi Trẻ phản ánh ngày 3/9/2026. Năm 2012, ông cùng nhóm bạn lập doanh nghiệp truyền thông, tổ chức sự kiện tại Đà Nẵng. Kinh doanh không hiệu quả, công ty làm thủ tục tạm ngừng một năm vào năm 2013. Sau đó, ông bỏ dở việc xử lý hồ sơ vì cho rằng doanh nghiệp không còn hoạt động thì không đáng lo.

Theo bài báo, đến năm 2026, khi rà soát để giải thể, ông phải xử lý nhiều nghĩa vụ thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt và hồ sơ cũ. Tại thời điểm phản ánh, ông đã nộp hơn 80 triệu đồng nhưng thủ tục chưa xong; tính cả dịch vụ và khoản liên quan, tổng chi phí có thể xấp xỉ 100 triệu đồng. Đây là trường hợp cụ thể theo lời chủ doanh nghiệp được báo chí ghi nhận, không phải mức thu áp dụng chung cho việc giải thể.

Điều đáng suy nghĩ là một hoạt động kinh doanh kết thúc từ lâu vẫn có thể để lại trách nhiệm mà người đứng tên chưa thu xếp xong. Tuy nhiên, muốn lý giải vì sao một doanh nghiệp đã ngừng kinh doanh nhiều năm vẫn phải chi số tiền lớn khi làm thủ tục, cần xác định rõ các khoản phải thanh toán thay vì gom tất cả dưới khái niệm “phí giải thể”.

"Giải thể doanh nghiệp" cũng không hề dễ dàng. ảnh: AI

Luật sư Hoàng Hữu Phúc nhấn mạnh: “Không nên gọi chung gần 100 triệu đồng là ‘phí giải thể’. Khoản tiền đó có thể bao gồm: tiền thuế gốc; tiền chậm nộp; tiền phạt, nếu có quyết định hoặc căn cứ xử phạt; nghĩa vụ bảo hiểm; nghĩa vụ với người lao động; nghĩa vụ với chủ nợ/đối tác; và chi phí dịch vụ kế toán, pháp lý hoặc chi phí hành chính mà doanh nghiệp tự thuê. Phải xem bảng xác định nghĩa vụ cụ thể mới biết doanh nghiệp thực sự phải trả 100 triệu cho việc giải thể hay đang phải thanh toán các nghĩa vụ đã tích tụ trong nhiều năm”.

Sự phân biệt này quan trọng khi đánh giá yêu cầu giảm chi phí cho doanh nghiệp. Cắt giảm giấy tờ trùng lặp, thời gian chờ và chi phí dịch vụ phát sinh vì thủ tục phức tạp là một vấn đề; xử lý khoản thuế đã phát sinh, tiền lương chưa trả hoặc nợ đối tác lại là vấn đề khác. Doanh nghiệp có thể cần được hỗ trợ hoàn thiện hồ sơ, nhưng sự hỗ trợ đó không mặc nhiên làm mất nghĩa vụ với Nhà nước hay quyền lợi của người lao động và các chủ nợ.

Giải thích việc không có doanh thu nhưng vẫn có nghĩa vụ phải xử lý, luật sư Phúc cho biết doanh nghiệp chỉ đóng cửa thực tế mà không làm thủ tục tạm ngừng, giải thể hoặc thủ tục thuế cần thiết vẫn có thể còn trách nhiệm kê khai, báo cáo. Khi doanh nghiệp đề nghị chấm dứt hoạt động, cơ quan thuế rà soát hồ sơ còn thiếu, khoản phải nộp và vi phạm về thuế, hóa đơn nếu có. “Việc không có doanh thu không đồng nghĩa với không còn nghĩa vụ pháp lý”, ông lưu ý.

Đối với lệ phí môn bài, cũng phải xác định đúng thời kỳ. Từ ngày 1/1/2026, việc thu, nộp lệ phí môn bài đã chấm dứt theo Nghị quyết 198/2025/QH15. Công văn 645/CT-CS ngày 23/1/2026 của Cục Thuế đồng thời yêu cầu rà soát, thu đúng, thu đủ khoản phát sinh phải nộp từ năm 2025 trở về trước. Vì vậy, luật sư Phúc lưu ý việc bỏ lệ phí từ năm 2026 không đồng nghĩa các khoản còn thiếu của những năm trước và tiền chậm nộp liên quan tự động được xóa.

Tuy nhiên, có nghĩa vụ tồn đọng không có nghĩa mọi khoản được thông báo đều không cần kiểm tra. Theo luật sư, doanh nghiệp có quyền đề nghị cung cấp, đối chiếu thông tin; thực hiện quyền giải trình, khiếu nại hoặc khởi kiện theo quy định nếu cho rằng việc xác định nghĩa vụ không chính xác. Trước một khoản thanh toán lớn, ông khuyến nghị lập bảng đối chiếu theo từng kỳ, từng sắc thuế và từng quyết định xử lý, tách rõ nợ gốc, tiền chậm nộp, tiền phạt cùng căn cứ phát sinh.

"Việc doanh nghiệp đóng cửa hoặc không phát sinh doanh thu không tự động làm chấm dứt tư cách pháp lý của doanh nghiệp" - Luật sư Hoàng Hữu Phúc. Ảnh minh họa. Nguồn: IT

Ở chiều ngược lại, càng chậm xử lý, doanh nghiệp càng có thể gặp khó trong việc chứng minh tình trạng của mình. Hồ sơ cũ thiếu, nhân sự kế toán thay đổi hoặc dữ liệu giao dịch không còn đầy đủ đều khiến việc đối chiếu mất thời gian. Những vướng mắc về hồ sơ và nghĩa vụ tích tụ ở doanh nghiệp đã ngừng hoạt động nhiều năm cũng được Nhân Dân ghi nhận trong bài viết về chiến dịch làm sạch mã số thuế ngày 8/9.

Bởi vậy, vấn đề cần được đặt ra cụ thể hơn câu hỏi “giải thể có đắt không”. Doanh nghiệp đã thực hiện thủ tục nào, từ thời điểm nào, còn thiếu hồ sơ gì và khoản phải nộp được tính trên cơ sở nào? Chỉ khi làm rõ từng việc, mới có thể phân biệt phần trách nhiệm do chủ doanh nghiệp bỏ dở thủ tục với những bất cập trong hướng dẫn, phối hợp và giải quyết hồ sơ.

Lối ra thông thoáng phải đi cùng trách nhiệm

Theo thông tin VTV đăng ngày 8/9, bà Nguyễn Thị Thu, Trưởng ban Nghiệp vụ thuế, Cục Thuế, cho biết cơ quan thuế đặt mục tiêu giải quyết chấm dứt hiệu lực mã số thuế trong ba ngày làm việc khi người nộp thuế đã có hồ sơ và hoàn thành nghĩa vụ với ngân sách. Cơ quan thuế cũng ghi nhận, tổng hợp các vướng mắc về kê khai tồn đọng và nợ thuế của doanh nghiệp đã bỏ địa chỉ kinh doanh từ lâu.

Điều kiện đi kèm cần được hiểu đầy đủ. Ba ngày là mục tiêu xử lý khâu thuế khi đã đủ điều kiện, không phải lời bảo đảm rằng bất kỳ doanh nghiệp nào cũng hoàn tất toàn bộ quá trình giải thể trong ba ngày. Với doanh nghiệp còn công nợ, thiếu chứng từ hoặc chưa xử lý quyền lợi người lao động, phần chuẩn bị trước khi hồ sơ đủ điều kiện mới có thể là công đoạn mất nhiều thời gian.

Luật sư Hoàng Hữu Phúc cho biết, đối với giải thể tự nguyện, doanh nghiệp phải thực hiện đầy đủ một chuỗi thủ tục chứ không chỉ hoàn tất nghĩa vụ thuế. “Đối với giải thể tự nguyện, doanh nghiệp phải thực hiện đầy đủ trình tự: thông qua nghị quyết/quyết định giải thể, xử lý tài sản và các nghĩa vụ, thanh toán các khoản nợ, xử lý nghĩa vụ với người lao động, chấm dứt hoạt động của chi nhánh/văn phòng đại diện/địa điểm kinh doanh và nộp hồ sơ đăng ký giải thể. Khi hoàn tất theo quy định, tình trạng pháp lý của doanh nghiệp được cập nhật trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp”.

Như vậy, chấm dứt hiệu lực mã số thuế là một khâu quan trọng, nhưng không thay thế toàn bộ quá trình giải thể. Một “lối ra” thông thoáng cho doanh nghiệp vì thế không chỉ nằm ở việc rút ngắn thời gian xử lý hồ sơ, mà còn ở khả năng giúp người kinh doanh biết rõ mình đang vướng ở đâu, cần xử lý nghĩa vụ nào và phải thực hiện bước tiếp theo như thế nào.

Từ góc độ chính sách, luật sư Phúc cho rằng cần có cách ứng xử phù hợp với tính chất của từng trường hợp. “Đối với doanh nghiệp có sai sót hành chính nhưng chưa có dấu hiệu gian lận, nên ưu tiên cơ chế hướng dẫn và khắc phục trong phạm vi pháp luật cho phép”.

Điều đó đặc biệt có ý nghĩa với những doanh nghiệp đã ngừng hoạt động thực tế, hồ sơ tồn đọng nhiều năm nhưng chủ doanh nghiệp vẫn có thiện chí hoàn thành nghĩa vụ. Cảnh báo sớm, hướng dẫn rõ các bước phải làm, xác định cụ thể hồ sơ và khoản còn thiếu có thể giúp giảm tình trạng doanh nghiệp bị “treo” chỉ vì không biết phải bắt đầu xử lý từ đâu.

"Lối ra" của các doanh nghiệp nên thông thoáng, ưu tiên cơ chế. ảnh: AI

Tuy nhiên, tạo thuận lợi cho doanh nghiệp rút lui khỏi thị trường không đồng nghĩa nới lỏng với các hành vi cố tình vi phạm. Luật sư Phúc phân biệt: “Ngược lại, với doanh nghiệp có dấu hiệu trốn thuế, mua bán hóa đơn, tẩu tán tài sản hoặc cố tình bỏ mặc nghĩa vụ với người lao động và chủ nợ, cần tăng cường kiểm tra, phối hợp dữ liệu và xử lý theo pháp luật thuế, doanh nghiệp, lao động và hình sự nếu đủ căn cứ”.

Theo luật sư, đây cũng là ranh giới quan trọng của việc cải cách thủ tục giải thể: thủ tục có thể được đơn giản hóa, thời gian xử lý có thể được rút ngắn, nhưng trách nhiệm đã phát sinh không vì thế mà biến mất.

“Việc giải thể không được đồng nghĩa với xóa nghĩa vụ. Doanh nghiệp được tạo điều kiện để đóng cửa nhanh, nhưng phải bảo đảm ba nhóm nghĩa vụ được kiểm soát: nghĩa vụ với Nhà nước, nghĩa vụ với người lao động và nghĩa vụ với các chủ nợ. Như vậy vừa tránh tình trạng doanh nghiệp ‘đắp chiếu’ nhiều năm vì không biết thủ tục, vừa hạn chế việc lợi dụng giải thể để trốn thuế, mua bán hóa đơn hoặc bỏ lại nghĩa vụ cho người lao động”, luật sư Phúc nhấn mạnh.

Cách tiếp cận này cũng đặt ra yêu cầu đối với cơ chế phối hợp giữa các cơ quan. Người nộp hồ sơ cần được biết rõ khoản còn thiếu, căn cứ tính, giấy tờ phải bổ sung và đầu mối xử lý. Khi một trường hợp liên quan đồng thời đến đăng ký doanh nghiệp, thuế, bảo hiểm, lao động hoặc các nghĩa vụ khác, thông tin giữa các khâu càng minh bạch thì chi phí tuân thủ càng có khả năng giảm. Ngược lại, với trường hợp có dấu hiệu gian lận, dữ liệu được kết nối tốt cũng giúp cơ quan quản lý nhận diện và xử lý chính xác hơn.

Về phía người kinh doanh, bài học từ những doanh nghiệp đã ngừng hoạt động nhiều năm nhưng vẫn tồn tại về mặt pháp lý là không nên để khoảng cách giữa “đóng cửa” và “đóng doanh nghiệp” kéo dài.

Không nên coi việc đóng cửa văn phòng hoặc không phát sinh doanh thu là đã ‘đóng’ doanh nghiệp. Nguồn ảnh: IT

Luật sư Hoàng Hữu Phúc khuyến nghị: “Nguyên tắc quan trọng nhất là: không nên coi việc đóng cửa văn phòng hoặc không phát sinh doanh thu là đã ‘đóng’ doanh nghiệp. Nếu đã xác định không kinh doanh trở lại, nên xử lý tình trạng pháp lý càng sớm càng tốt”.

Nếu chỉ tạm thời không kinh doanh, doanh nghiệp cần đăng ký đúng trạng thái thay vì đóng cửa trên thực tế nhưng để hồ sơ thể hiện vẫn đang hoạt động. Đồng thời, cần kiểm tra tình trạng mã số thuế, các tờ khai và quyết toán còn thiếu, tiền thuế, tiền chậm nộp, tiền phạt nếu có cũng như dữ liệu hóa đơn cần xử lý.

Việc rà soát cũng phải bao quát công nợ ngân hàng, nhà cung cấp, tiền thuê địa điểm, bảo hiểm và quyền lợi người lao động. Chốt sổ sách, lưu chứng từ, đối chiếu tài khoản ngân hàng và hóa đơn tại thời điểm ngừng hoạt động sẽ tạo cơ sở xử lý về sau. Nếu đã xác định không quay lại kinh doanh, việc chủ động lựa chọn phương án chấm dứt phù hợp càng sớm sẽ giúp hạn chế nguy cơ hồ sơ và nghĩa vụ tiếp tục tích tụ qua nhiều năm.

Đằng sau một con số giải thể là những thời điểm và hoàn cảnh khác nhau. Đọc đúng dữ liệu giúp tránh cả việc phóng đại khó khăn lẫn bỏ qua sức ép thực tế. Còn một lối ra khả thi phải đồng thời đạt hai yêu cầu: giúp doanh nghiệp có thiện chí biết rõ phải làm gì để hoàn tất việc rời thị trường, nhưng không biến giải thể thành con đường xóa bỏ những trách nhiệm đã phát sinh.

Người kinh doanh có thể dừng một dự án, một mô hình hay một doanh nghiệp không còn hiệu quả. Nhưng nếu quyết định dừng lại đã được đưa ra, việc xử lý tình trạng pháp lý sớm có thể là cách ít tốn kém nhất để thực sự khép lại câu chuyện ấy.