hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
Nhập email của bạn để lấy lại mật khẩu
Một số bến container như Chùa Vẽ, Đình Vũ, Cái Lân, Nam Hải, Gemadept, CICT, HITC… được đánh giá là đã chú ý đầu tư chiều sâu, đặc biệt là công nghệ thiết bị khai thác cảng…
Theo Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến 2050, hệ thống cảng biển Việt Nam bao gồm 5 nhóm:
Nhóm 1 gồm 5 cảng: Hải Phòng, Quảng Ninh, Thái Bình, Nam Định và Ninh Bình.
Nhóm 2 gồm 6 cảng: Thanh Hóa, Nghệ An, Hà Tĩnh, Quảng Bình, Quảng Trị và Thừa Thiên Huế.
Nhóm 3 gồm 8 cảng biển: Đà Nẵng (gồm khu vực huyện đảo Hoàng Sa), Quảng Nam, Quảng Ngãi, Bình Định, Phú Yên, Khánh Hòa (gồm khu vực huyện đảo Trường Sa), Ninh Thuận và Bình Thuận.
Nhóm 4 gồm 5 cảng biển: TP.HCM, Đồng Nai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Dương và Long An.
Nhóm 5 gồm 12 cảng biển: Cần Thơ, Đồng Tháp, Tiền Giang, Vĩnh Long, Bến Tre, An Giang, Hậu Giang, Sóc Trăng, Trà Vinh, Cà Mau, Bạc Liêu và Kiên Giang.
Cục Hàng hải Việt Nam cho biết tại nhóm cảng biển số 1, ngoại trừ một số bến cảng lớn như Lạch Huyện, bến cảng ở Đình Vũ và một số cảng khu vực sông Cấm (Chùa vẽ, Green port, Nam Hải, Transvina) được trang bị thiết bị hiện đại công suất tương đối lớn, cơ bản đáp ứng nhu cầu hiện tại, các bến còn lại đều không đầu tư thêm thiết bị trong 5 năm gần đây.
Cùng với nhóm 1, nhóm cảng biển số 4 cũng được đánh giá là có chất lượng, trình độ khoa học công nghệ từng bước được cải thiện. Những bến cảng mới tại Cát Lái, Hiệp Phước, Cái Mép - Thị Vải được đầu tư với quy mô đồng bộ, hiện đại trang thiết bị xếp dỡ năng suất cao, năng suất xếp dỡ của cảng đạt tiêu chuẩn cấp khu vực, thời gian giải phóng tàu nhanh.
Trong khi đó, các bến cảng cũ đầu tư trước năm 2005 có năng suất bốc chưa cao, khiến việc giải phóng tàu chậm (năng suất trung bình 2.500T/mét dài đối với hàng tổng hợp và 8-15 container/giờ với hàng container).
Đối với nhóm cảng biển số 2, các bến cảng mới được xây dựng mới với trang thiết bị được đầu tư khá đồng bộ, tương đối hiện đại như bến cảng gang thép Nghi Sơn, bến số 5 cảng Cửa Lò.
Ở nhóm cảng biển số 3, một số bến cảng lớn như Tiên Sa, Bến Gemadept Dung Quất được trang bị thiết bị hiện đại công suất tương đối lớn, cơ bản đáp ứng nhu cầu hiện tại.
Nhóm cảng biển số 5 có sự đầu tư trang thiết bị xếp dỡ cảng biển hạn chế nhất. Trong nhóm này, chỉ có bến cảng Cái Cui và Tân cảng Cái Cui được đầu tư trang thiết bị tương đối hiện đại. Tuy nhiên, việc khai thác cảng còn nhiều hạn chế.
Hiện có nhiều quan điểm khác nhau về việc quy hoạch phát triển, tuy nhiên, ông Phạm Anh Tuấn - Tổng Giám đốc Công ty CP Tư vấn Thiết kế Cảng - Kỹ thuật biển (Portcoast) cho rằng nên tập trung, tận dụng tối đa những nơi có điều kiện tốt.
"Có thể tập trung phát triển những cảng lớn ở khu vực nhóm 1 và 4, các khu vực còn lại sẽ phát triển những cảng vệ tinh để vận chuyển, kết nối. Điều đó sẽ hợp lý cho chuỗi cung ứng và logistics", Tổng Giám đốc Portcoast nhận định.