Thứ hai, 15/03/2021 00:00 (GMT+7)

Phát triển hệ thống cảng biển thời kỳ 2021 – 2030 qua nhiều cỡ tàu

Tại Đề án Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050, Cục Hàng hải và các đơn vị tư vấn đã đồng thời đưa ra dự kiến cỡ loại tàu hợp lý để phát triển đội tàu.

Hiện tại, đội tàu Việt Nam đứng thứ 4 trong khu vực ASEAN về số lượng, trẻ hơn đội tàu thế giới 5,8 tuổi. Tuy nhiên, theo đánh giá của Cục Hàng hải, sức cạnh tranh của đội tàu Việt Nam còn yếu khi đa số các chủ tàu biển phát triển nhỏ, với 1.049 tàu vận tải nhưng có đến 550 chủ sở hữu tàu, trong đó chỉ có khoảng 30 chủ tàu sở hữu đội tàu trên 10.000 DWT.

Ảnh minh hoạ. Nguồn: ĐT

Đặc biệt, đội tàu container gồm 38 tàu hiện đều có trọng tải nhỏ, sức chở trung bình khoảng 800 Teus/tàu, lớn nhất là gần 1.800 Teus. Trong khi đó, trên thế giới đã phát triển loại tàu container có sức chở trên 20.000 Teus.

Vì vậy, Cục Hàng hải Việt Nam đã cho ra Đề án Quy hoạch tổng thể phát triển hệ thống cảng biển Việt Nam thời kỳ 2021 – 2030, tầm nhìn đến năm 2050, để các đơn vị tư vấn đưa ra dự kiến cỡ loại tàu hợp lý để phát triển đội tàu.

Theo đó, đối với các tuyến nội địa, tàu hoạt động có trọng tải từ 1.000 – 10.000 DWT; sà lan biển chuyên dùng có trọng tải từ 5.000 – 10.000 tấn để vận tải than nhập khẩu từ đầu mối trung chuyển về các bến của nhà máy.

Cỡ tàu xác định sử dụng vận chuyển mặt hàng rời, bách hóa tổng hợp từ 1.000 – 10.000 DWT; tàu chở sản phẩm dầu trọng tải 1.000 – 30.000 DWT; tàu chở dầu thô 10.000 – 15.000 DWT, dầu sản phẩm từ 1.000 – 50.000 DWT; hàng container sử dụng cỡ tàu 200 – 1.000 Teus.

Đối với các tuyến quốc tế, theo định hướng đến năm 2030, tàu hoạt động trên các tuyến này sử dụng tàu chuyên dùng hàng rời trọng tải từ 100.000 – 200.000 DWT để nhập khẩu than, tàu trọng tải từ 5.000 – 50.000 tấn chở hàng bách hóa, hàng tổng hợp, tàu trọng tải 30.000 – 50.000 tấn để xuất khẩu than, quặng, alumin, nhập phân bón và clinker.

Đối với hàng bách hóa, tổng hợp sử tàu trọng tải 5.000 – 50.000 DWT. Trong đó, chặng đi/đến các nước khu vực Đông Nam Á, châu Á sử dụng tàu trọng tải 10.000 – 20.000 DWT; chặng đi/đến các nước khu vực châu Phi, châu u, châu Mỹ dùng tàu 30.000 – 50.000 DWT.

Đối với hàng container, chặng đi/đến các nước châu Á chủ yếu là tàu sức chở 500 – 3000 Teus; Chặng đi/đến các nước châu Phi, châu u, châu Mỹ là tàu sức chở 4.000 – 24.000 Teus.

Đối với hàng lỏng, dầu thô nhập ngoại sử dụng tàu trọng tải 100.000 – 400.000 DWT; sản phẩm dầu nhập ngoại trọng tải 10.000 – 50.000 DWT; xăng dầu nhập khẩu trung chuyển dùng cỡ tàu từ 10.000 – 50.000 DWT; khí hóa lỏng LPG sử dụng cỡ tàu từ 1.000 – 5.000 DWT; LNG 50.000 – 100.000 DWT.

Khuê Hiền