hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
Nhập email của bạn để lấy lại mật khẩu
Thị trường cà phê thế giới cuối tháng 8/2026 phân hóa rõ giữa hai dòng chủ lực. Robusta chịu sức ép khi nguồn cung cải thiện, trong khi Arabica tăng giá do tồn kho thấp và tiến độ thu hoạch tại Brazil chậm.
Với Việt Nam, xuất khẩu cà phê tiếp tục tăng về lượng nhưng giảm về giá trị, đặt ra yêu cầu nâng chất lượng và gia tăng giá trị thay vì phụ thuộc vào sản phẩm thô.
Giá cà phê Robusta trên sàn London giảm trong tháng 8 khi nguồn cung cho thấy dấu hiệu cải thiện. Đến ngày 25/8, tồn kho Robusta đạt chuẩn trên sàn ICE London lên 4.943 lô, mức cao nhất trong 9 tháng. Xuất khẩu cà phê Việt Nam tính đến ngày 15/8 cũng tăng 12% so với cùng kỳ năm trước, trong khi sản lượng niên vụ 2025–2026 được dự báo tăng 6%, lên mức cao nhất trong 4 năm. Nguồn cung phục hồi đã làm giảm lo ngại thiếu hụt và tạo sức ép lên giá Robusta.
Đến ngày 27/8, giá Robusta kỳ hạn tháng 9/2026 trên sàn London còn 3.588 USD/tấn, giảm 5,1% so với ngày 1/8; kỳ hạn tháng 11/2026 giảm 4,3%, xuống 3.614 USD/tấn.

Diễn biến trên thị trường Arabica theo hướng ngược lại. Tồn kho Arabica đạt chuẩn trên sàn ICE New York đến ngày 25/8 giảm còn 225.442 bao, thấp nhất trong gần 3 năm. Tại Brazil, tiến độ thu hoạch cũng chậm hơn cùng kỳ. Theo Hợp tác xã Cooxupé, đến ngày 21/8, Brazil mới hoàn thành 87,5% vụ thu hoạch, thấp hơn mức 91,3% của cùng kỳ năm trước.
Nguồn cung giao ngay hạn chế, tồn kho thấp và việc nông dân Brazil hạn chế bán ra thúc đẩy hoạt động mua vào, kéo giá Arabica đi lên. Ngày 27/8, giá Arabica kỳ hạn tháng 9/2026 trên sàn New York đạt 357,6 UScent/lb, tăng 7,7% so với đầu tháng; kỳ hạn tháng 12 đạt 322,15 UScent/lb, tăng 2,4%. Trên sàn BMF Brazil, hai kỳ hạn tương ứng tăng 5,3% và 6%.
Tuy nhiên, dư địa tăng giá Arabica có thể thu hẹp khi vụ thu hoạch tại Brazil hoàn tất và nguồn cung mới được đưa ra thị trường. Diễn biến trái chiều giữa Robusta và Arabica cho thấy nguồn cung đang tiếp tục là yếu tố chi phối mạnh thị trường cà phê trong ngắn hạn.
Tại Việt Nam, giá cà phê Robusta trong nước cũng giảm theo thị trường thế giới. Ngày 27/8, giá tại Đắk Lắk, Lâm Đồng, Gia Lai và Đắk Nông cùng giảm 500 đồng/kg so với đầu tháng, dao động 95.700–96.500 đồng/kg. Hoạt động bán ra và nhu cầu thu mua chậm cũng tạo thêm áp lực lên giá.
Trong 15 ngày đầu tháng 8/2026, Việt Nam xuất khẩu 61,2 nghìn tấn cà phê, trị giá 266,1 triệu USD, tăng 46,8% về lượng và 18,1% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025. Lũy kế đến ngày 15/8, xuất khẩu đạt 1,26 triệu tấn, trị giá 5,72 tỷ USD, tăng 12% về lượng nhưng giảm 10% về trị giá.
Cơ cấu xuất khẩu tiếp tục phụ thuộc lớn vào Robusta. Trong 7 tháng năm 2026, Robusta chiếm 73,3% tổng kim ngạch cà phê xuất khẩu. Khối lượng xuất khẩu đạt gần 1,01 triệu tấn, trị giá 4 tỷ USD, tăng 11,4% về lượng nhưng giảm 15,4% về trị giá so với cùng kỳ năm trước. Giá xuất khẩu giảm đã khiến tốc độ tăng về lượng chưa chuyển thành tăng trưởng tương ứng về doanh thu.
Cà phê chế biến đạt 1,06 tỷ USD, chiếm 19,5% tổng kim ngạch và tăng 4,3%. Arabica đạt 58,5 nghìn tấn, trị giá 387,7 triệu USD, chiếm 7,1% kim ngạch, giảm cả về lượng và giá trị. Trong khi đó, Excelsa vẫn chiếm tỷ trọng nhỏ, với 985 tấn, trị giá 4,3 triệu USD, nhưng tăng 83,2% về lượng và 44,1% về giá trị.

Diễn biến xuất khẩu cho thấy bài toán lớn của ngành cà phê nằm ở giá trị thu về trên mỗi đơn vị sản phẩm. Khi lượng xuất khẩu tăng nhưng giá trị giảm, dư địa cải thiện hiệu quả sẽ phụ thuộc nhiều vào chất lượng, chế biến và khả năng xây dựng sản phẩm có giá trị gia tăng cao hơn.
Nhật Bản là một thị trường đáng chú ý cho hướng đi này. Sáu tháng đầu năm 2026, Nhật Bản nhập khẩu 173 nghìn tấn cà phê, trị giá gần 1,2 tỷ USD, giảm 9,3% về lượng nhưng tăng 2,4% về trị giá. Giá nhập khẩu bình quân đạt 6.922 USD/tấn, tăng 12,9%.
Trong khi giá nhập khẩu bình quân của Nhật Bản tăng, giá cà phê nhập từ Việt Nam lại giảm 16,4%, xuống 4.462 USD/tấn. Dù vậy, lượng cà phê Nhật Bản nhập từ Việt Nam đạt 55,5 nghìn tấn, tăng 5%; kim ngạch đạt 247,8 triệu USD. Thị phần của Việt Nam trong tổng lượng cà phê nhập khẩu của Nhật Bản tăng từ 27,74% lên 32,10%, đưa Việt Nam lên vị trí nhà cung cấp lớn thứ hai sau Brazil.
Khoảng cách giữa mức giá bình quân của cà phê nhập khẩu vào Nhật Bản và giá nhập từ Việt Nam cho thấy dư địa nâng giá trị còn lớn. Nhật Bản là thị trường có yêu cầu cao về chất lượng, an toàn thực phẩm, bao bì và truy xuất nguồn gốc. Doanh nghiệp Việt Nam muốn mở rộng thị phần cần kiểm soát tốt chất lượng, dư lượng, nguồn gốc nguyên liệu, đồng thời phát triển cà phê rang xay, cà phê hòa tan và các sản phẩm tiện dụng phù hợp thị hiếu.
Với Robusta đang chịu sức ép về giá, chuyển từ cạnh tranh bằng sản lượng sang cạnh tranh bằng chất lượng và giá trị gia tăng sẽ quyết định khả năng duy trì tăng trưởng xuất khẩu. Thị phần tại Nhật Bản đang mở rộng, nhưng hiệu quả từ thị trường này sẽ phụ thuộc vào khả năng nâng giá trị trên mỗi đơn hàng và đáp ứng ngày càng đầy đủ các tiêu chuẩn của nhà nhập khẩu.