Thứ năm, 24/11/2022 21:25 (GMT+7)

Xuất khẩu thủy sản Việt Nam gặp khó khăn khi Nhật Bản áp dụng cơ chế mới

Phan Huy

Thời gian tới đây thị trường Nhật Bản cũng sẽ kiểm soát IUU trong toàn bộ quá trình chuỗi và đảm bảo truy xuất nguồn gốc đối với ngành thủy sản Việt Nam.


Theo thống kê của Tổng cục Hải quan, tháng 10/2022, Nhật Bản vượt Hoa Kỳ trở thành thị trường xuất khẩu thủy sản lớn nhất của Việt Nam, đạt 160,6 triệu USD, tăng 34,1% so với tháng 10/2021. Tính chung 10 tháng năm 2022, kim ngạch xuất khẩu thủy sản Việt Nam sang Nhật Bản đạt 1,43 tỷ USD, tăng 32,9% so với cùng kỳ năm 2021.

 

Với kết quả trên, Nhật Bản đã vượt qua Trung Quốc trở thành thị trường xuất khẩu thủy sản lớn thứ hai của Việt Nam trong 10 tháng qua (Mỹ 1,9 tỉ USD, Trung Quốc 1,3 tỉ USD). Nhật Bản nhập khẩu nhiều tôm, bạch tuộc, mực, cá ngừ,... từ Việt Nam.

 

Tuy nhiên, nếu như thời gian tới Nhật Bản áp dụng cơ chế tương đương về quy định Khai thác hải sản bất hợp pháp, không khai báo và không theo quy định (IUU) của Ủy ban châu Âu (EC) chắc chắn xuất khẩu thủy sản Việt Nam sẽ gặp phải những khó khăn nhất định.

 

Trong bối cảnh “thẻ vàng” thủy sản của EC chưa được tháo gỡ, thị trường Nhật Bản gia tăng những quy định khắt khe hơn khi xuất khẩu thủy sản vào thị trường này đã đặt ra những thách thức không nhỏ cho ngành hàng này trong giai đoạn sắp tới.

 

 

Theo quy định mới, các cơ sở chế biến thủy sản khai thác xuất khẩu vào thị trường Nhật Bản khi có nhu cầu xác nhận cho lô hàng thủy sản chế biến từ nguyên liệu nhập khẩu được khai thác sau ngày 1/12/2022 thuộc 04 loài nêu trên để xuất khẩu vào Nhật Bản, lập đầy đủ hồ sơ theo quy định tại Khoản 1 Điều 12 Thông tư 21/2018/TT-BNNPTNT gửi về Trung tâm Chất lượng nông lâm thủy sản vùng thuộc Cục trên địa bàn để được thực hiện xác nhận.

 

Do đó, các doanh nghiệp cần nghiên cứu quy định của Việt Nam và Nhật Bản để ban hành và tổ chức thực hiện quy định nội bộ của doanh nghiệp nhằm kiểm soát IUU trong toàn bộ quá trình chuỗi (khai thác, thu mua, vận chuyển, tiếp nhận, chế biến, bảo quản, xuất khẩu) và đảm bảo thông tin khả năng truy xuất nguồn gốc.

 

Cán bộ thực hiện kiểm soát IUU của các doanh nghiệp phải có kiến thức hiểu biết và nắm vững quy định của pháp luật, của doanh nghiệp, kỹ năng thực hành thực tế với nhiệm vụ được gia.

 

Đồng thời xây dựng thủ tục và tổ chức theo dõi trừ lùi/cấn trừ và có đối chiếu dữ liệu theo dõi với thực tế sản xuất cho nguyên liệu đưa vào sản xuất, nguyên liệu còn lại, thành phẩm đã xuất khẩu, chưa xuất khẩu,... nhằm minh bạch khả năng truy xuất nguồn gốc trong toàn chuỗi thực hiện quy định IUU, đảm bảo chống lẫn lộn giữa các lô nguyên liệu đưa vào sản xuất, giữa lô nguyên liệu đáp ứng quy định IUU và chưa đáp ứng đầy đủ quy định IUU.