hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
Nhập email của bạn để lấy lại mật khẩu
Xuất khẩu hạt tiêu Việt Nam đạt 216,66 nghìn tấn, trị giá 1,41 tỷ USD trong chín tháng đầu năm 2026, tăng lần lượt 16,2% và 11,4% so với cùng kỳ năm trước.
Tại Thái Lan, Việt Nam tiếp tục là nhà cung cấp lớn nhất, chiếm 87,14% tổng lượng hạt tiêu nhập khẩu trong tám tháng. Tuy nhiên, giá xuất khẩu bình quân giảm 4,1%, cho thấy tăng trưởng kim ngạch chủ yếu dựa vào sản lượng.
Theo số liệu của Cục Hải quan, tháng 9/2026, Việt Nam xuất khẩu 25,15 nghìn tấn hạt tiêu, thu về 163,5 triệu USD, tăng 10,6% về lượng và 10,8% về trị giá so với tháng 8. So với tháng 9/2025, lượng xuất khẩu tăng 23,4%, trị giá tăng 20,4%.
Lũy kế chín tháng đầu năm, xuất khẩu đạt 216,66 nghìn tấn, trị giá 1,41 tỷ USD, tăng 16,2% về lượng và 11,4% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025. Mức tăng về lượng cao hơn mức tăng kim ngạch cho thấy giá bán bình quân đang kéo giảm hiệu quả tăng trưởng của ngành.
Giá xuất khẩu bình quân tháng 9 đạt 6.501 USD/tấn, tăng nhẹ 0,1% so với tháng trước nhưng giảm 2,5% so với cùng kỳ năm 2025. Tính chung chín tháng, giá bình quân đạt 6.509 USD/tấn, giảm 4,1%.

Trên thị trường quốc tế, giá hạt tiêu giữa tháng 10/2026 chịu áp lực giảm tại phần lớn các nước sản xuất chính. Ngày 19/10, giá tiêu đen Lampung của Indonesia đạt 6.769 USD/tấn, giảm 117 USD/tấn so với một tháng trước. Giá tiêu trắng Muntok giảm 160 USD/tấn, xuống 9.268 USD/tấn.
Tại Malaysia, giá tiêu đen Kuching ASTA giảm 150 USD/tấn, xuống 9.100 USD/tấn; tiêu trắng ASTA cũng giảm 150 USD/tấn, còn 12.000 USD/tấn. Brazil là thị trường hiếm hoi ghi nhận giá tăng, với tiêu đen ASTA 570 đạt 5.800 USD/tấn, tăng 50 USD/tấn so với ngày 19/9.
Tại Việt Nam, giá tiêu đen xuất khẩu loại 500 g/l ở mức 5.950 USD/tấn, loại 550 g/l đạt 5.995 USD/tấn, trong khi tiêu trắng duy trì ở mức 8.450 USD/tấn.
Giá thu mua trong nước ngày 19/10 dao động từ 137.500–140.000 đồng/kg. Gia Lai, Bà Rịa - Vũng Tàu, Bình Phước và Đồng Nai tăng 500 đồng/kg so với ngày 19/9; Đắk Lắk giữ nguyên ở mức 139.000 đồng/kg, còn Đắk Nông giảm 1.000 đồng/kg xuống 140.000 đồng/kg.
Giá xuất khẩu bình quân giảm trong khi sản lượng tăng cho thấy doanh nghiệp cần kiểm soát chi phí và hạn chế phụ thuộc vào tăng trưởng khối lượng. Việc duy trì chất lượng, phát triển chế biến sâu và tìm kiếm các thị trường có khả năng chi trả tốt hơn sẽ ảnh hưởng trực tiếp đến hiệu quả xuất khẩu trong những tháng cuối năm.
Thái Lan đang là thị trường có vị thế đáng chú ý đối với ngành hạt tiêu Việt Nam. Theo dữ liệu của Cục Hải quan Thái Lan, trong tám tháng đầu năm 2026, nước này nhập khẩu 8,92 nghìn tấn hạt tiêu, trị giá 63,60 triệu USD, tăng 65,6% về lượng và 44,4% về trị giá so với cùng kỳ năm 2025.
Việt Nam cung cấp 7,77 nghìn tấn, trị giá 53,76 triệu USD, tăng 69,5% về lượng và 44,6% về trị giá. Thị phần của Việt Nam trong tổng lượng hạt tiêu nhập khẩu của Thái Lan tăng từ 85,15% lên 87,14%. Tỷ trọng theo trị giá đạt 84,54%, nhỉnh hơn mức 84,45% của cùng kỳ năm trước.
Lượng hạt tiêu nhập khẩu từ Việt Nam tăng thêm khoảng 3,19 nghìn tấn, chiếm 90,2% mức tăng tổng lượng nhập khẩu của Thái Lan trong tám tháng. Kết quả này cho thấy Việt Nam đang giữ vai trò chủ đạo trong nguồn cung của thị trường.

Indonesia đứng thứ hai với 1,01 nghìn tấn, trị giá 8,34 triệu USD, tăng 41,4% về lượng và 47,1% về trị giá. Tuy nhiên, thị phần theo lượng của Indonesia giảm từ 13,28% xuống 11,33%. Malaysia, Trung Quốc và Ấn Độ chiếm tỷ trọng nhỏ trong cơ cấu nhập khẩu của Thái Lan.
Lợi thế giá là một yếu tố hỗ trợ hạt tiêu Việt Nam. Trong tám tháng đầu năm 2026, giá nhập khẩu bình quân hạt tiêu từ Việt Nam đạt 6.917 USD/tấn, thấp hơn mức bình quân chung của Thái Lan là 7.129 USD/tấn và thấp hơn đáng kể mức 8.253 USD/tấn của Indonesia. Giá nhập khẩu từ Việt Nam giảm 14,7% so với cùng kỳ năm trước, góp phần tăng sức cạnh tranh nhưng đồng thời gây áp lực lên giá trị thu về trên mỗi tấn hàng.
Tổng lượng hạt tiêu Thái Lan nhập khẩu trong tám tháng đã bằng khoảng 92% lượng nhập khẩu cả năm 2025, đạt 9,65 nghìn tấn. Với tốc độ hiện tại, nhu cầu nhập khẩu cả năm 2026 có thể vượt mức của năm trước. Tuy nhiên, khi thị phần Việt Nam đã gần 87%, dư địa mở rộng thêm về lượng không còn nhiều.
Trên thị trường xuất khẩu nói chung, Hoa Kỳ tiếp tục là thị trường lớn nhất của hạt tiêu Việt Nam trong chín tháng đầu năm, với 52,74 nghìn tấn, chiếm 24,34% tổng lượng xuất khẩu. Lượng xuất khẩu sang thị trường này tăng 26,3%, trị giá tăng 21,4% so với cùng kỳ năm 2025.
Một số thị trường khác cũng ghi nhận mức tăng về lượng như Thổ Nhĩ Kỳ tăng 84,3%, Thái Lan tăng 58,5%, Hà Lan tăng 20,6%, Ai Cập tăng 19,3% và Philippines tăng 16,4%. Ngược lại, xuất khẩu sang Các Tiểu vương quốc Ả Rập Thống nhất giảm 26,4%, Ấn Độ giảm 20,8%, Đức giảm 15% và Anh giảm 14,1%.
Đối với thị trường Thái Lan, doanh nghiệp Việt Nam cần duy trì nguồn cung ổn định, kiểm soát chất lượng và đáp ứng yêu cầu truy xuất nguồn gốc. Khi lợi thế giá giúp mở rộng thị phần nhưng giá xuất khẩu bình quân đang giảm, việc phát triển sản phẩm có giá trị gia tăng cao hơn sẽ quyết định khả năng cải thiện hiệu quả kinh doanh.
Trong những tháng cuối năm 2026, ngành hạt tiêu cần theo dõi sát biến động giá quốc tế và nhu cầu tại các thị trường lớn. Duy trì vị trí dẫn đầu tại Thái Lan, khai thác tốt thị trường Hoa Kỳ và mở rộng các thị trường có tốc độ tăng trưởng cao sẽ giúp doanh nghiệp phân tán rủi ro, đồng thời giảm phụ thuộc vào cạnh tranh bằng giá.