Thứ năm, 10/12/2020 00:00 (GMT+7)

Xây dựng thương hiệu quốc gia cho công nghệ tài chính ngân hàng

Việc tham gia các Hiệp định thương mại tự do song phương và đa phương dẫn đến nhu cầu gây dựng thương hiệu quốc gia của các tổ chức tài chính ngày càng cao. Để đáp ứng nhu cầu thiết yếu đó, ngày 9/12, tại Hà Nội, Viện nghiên cứu Chiến lược thương hiệu và Cạnh tranh phối hợp với các bên liên quan tổ chức diễn đàn Xây dựng thương hiệu quốc gia cho công nghệ tài chính Ngân hàng Việt Nam.

Toàn cảnh diễn đàn.

Công nghệ tài chính tăng cơ hội giúp doanh nghiệp tiếp cận những thị trường mới, đồng thời mở ra những cơ hội tương đương cho các đối thủ, do vậy doanh nghiệp phải đổi mới sản phẩm và kỹ năng phục vụ liên tục để có thể cạnh tranh được.

Các chuyên gia tài chính khẳng định rằng, chuyển đổi số là xu hướng không thể bỏ qua của doanh nghiệp, doanh nghiệp cần đầu tư nghiêm túc cho công nghệ nếu muốn có những lợi thế để phát triển trong tương lai và Fintech là trọng tâm cần được đưa vào chiến lược xây dựng, phát triển thương hiệu quốc gia của các doanh nghiệp. 

Hiện tại, Fintech tại Việt Nam đã đạt được mức tăng trưởng ấn tượng, từ 74 công ty năm 2017 lên gần 140 công ty vào cuối năm 2019. Trong đó, lĩnh vực thanh toán chiếm tỷ lệ lớn nhất với 47% số công ty và 98% số vốn đầu tư vào Fintech Việt Nam năm 2019, nếu chỉ tính các thương vụ được công bố (theo UOB); cho vay ngang hàng là lĩnh vực lớn thứ hai với 20 công ty, tiêu biểu là Tima và Vaymuon.vn.

Tuy nhiên, Fintech tại Việt Nam vẫn chưa phát triển bằng các nước ASEAN khác (cụ thể là Singapore chiếm 51% tổng vốn đầu tư vào fintech tại ASEAN).

Theo TS. Cấn Văn Lực – Thành viên hội đồng tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia cho rằng, Việt Nam đang có một số thách thức về vấn đề pháp lý, chính sách, văn hóa; về vấn đề dữ liệu và vấn đề an toàn bảo mật, an ninh mạng.

TS. Cấn Văn Lực – Thành viên hội đồng tư vấn chính sách tài chính, tiền tệ quốc gia.

Phát biểu tại diễn đàn, TS. Nguyễn Trí Hiếu – Chuyên gia tài chính ngân hàng cho biết, các công ty Fintech không phải là những định chế tài chính, nhưng họ là những trung gian tài chính kết nối các thành phần kinh tế với nhau để đáp ứng những nhu cầu tài chính như đầu tư, vay mượn, tài trợ. Điển hình cho những hoạt động của các công ty Fintech là làm trung gian kết nối những hoạt động thanh toán, đầu tư, cho vay, qua một nền tảng (platform) ứng dụng công nghệ thông tin hiện đại. 

Nguyễn Trí Hiếu đặc biệt nhấn mạnh vào hoạt động của các công ty Fintech trong lĩnh vực cho vay ngang hàng (P2P): “Hoạt động cho vay ngang hàng là một hoạt động tài chính mới mẻ, bổ sung cho hoạt động tín dụng của hệ thống ngân hàng Việt Nam, đặc biệt trong bối cảnh nền kinh tế Việt Nam và nền kinh tế toàn cầu đang bị tác động bởi dịch bệnh”. 

TS còn cho biết thêm, cho vay ngang hàng đáp ứng phần nào nhu cầu vay vốn của DNNVV và cá nhân hiện nay. Tuy nhiên, hiện tại pháp luật chưa có quy định cụ thể về loại hình hoạt động này. Ngân hàng nhà nước đang xây dựng một chương trình thử nghiệm được gọi là Regulatory Sandbox để đưa ra những quy định cho hoạt động cho vay ngang hàng.

Chuyên gia tài chính ngân hàng Nguyễn Trí Hiếu.

Theo đó, TS. Nguyễn Trí Hiếu có đưa ra các đề xuất để xây dựng sandbox như sau: Đối với Ngân hàng nhà nước, cần phân cấp các công ty P2P theo 4 cấp độ tham gia cho vay, đó là Fintech chỉ kết nối nhà đầu tư và bên vay; Fintech có thể thẩm định khả năng trả nợ hay hoàn vốn của bên vay; Fintech hoạt động như một ngân hàng, có quy định lãi suất, phí, thời gian vay, phương pháp trả nợ và các quy định khác liên quan đến nhà đầu tư và bên vay; Fintech được các nhà đầu tư ủy thác vốn và cho vay có giới hạn.

Đối với các công ty Fintech, cần minh bạch rõ ràng trong các hoạt động.

Trần Thùy