hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
Nhập email của bạn để lấy lại mật khẩu
Thị trường mỹ phẩm đang trên đà phát triển mạnh mẽ, thu hút sự tham gia của hàng nghìn doanh nghiệp trong và ngoài nước. Để ngành này thực sự cất cánh và cạnh tranh sòng phẳng với quốc tế, việc xây dựng một hành lang pháp lý thông thoáng, minh bạch là vô cùng cấp thiết.
Mới đây, Liên đoàn Thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) đã có những góp ý sâu sắc đối với Dự thảo Nghị định về quản lý mỹ phẩm của Bộ Y tế, phản ánh tiếng nói của cộng đồng doanh nghiệp và đề xuất các giải pháp nhằm gỡ bỏ những rào cản thủ tục không cần thiết, hướng tới sự phù hợp với thông lệ quốc tế và tinh thần cải cách của Nghị quyết 68-NQ/TW.
Điểm vướng mắc lớn nhất mà VCCI chỉ ra là quy định tại khoản 9 Điều 63 Dự thảo, yêu cầu doanh nghiệp phải định kỳ kiểm nghiệm sản phẩm mỹ phẩm tối thiểu 6 tháng/lần tại hệ thống kiểm nghiệm nhà nước. VCCI lập luận rằng quy định này không chỉ thừa thãi mà còn tạo ra nhiều hệ lụy bất cập.
Thứ nhất, tính cần thiết của quy định này bị đặt dấu hỏi khi mục tiêu bảo đảm chất lượng sản phẩm đã được đáp ứng hiệu quả thông qua Giấy chứng nhận Thực hành tốt sản xuất mỹ phẩm (CGMP-ASEAN). Toàn bộ sản phẩm mỹ phẩm bắt buộc phải sản xuất theo tiêu chuẩn này, kèm theo việc đánh giá độ ổn định để đảm bảo chất lượng và an toàn.
Hơn nữa, cơ chế xử lý vi phạm đã đủ nghiêm khắc (sản phẩm không đạt CGMP-ASEAN sẽ bị thu hồi Phiếu công bố). Như vậy, việc bổ sung yêu cầu kiểm nghiệm sau lưu thông là không cần thiết, gây lãng phí nguồn lực cho doanh nghiệp.
Thứ hai, về tính hiệu quả, quy định này không mang lại nhiều giá trị thực tiễn bởi mẫu kiểm nghiệm do doanh nghiệp tự gửi có thể không phản ánh đúng chất lượng sản phẩm lưu hành trên thị trường. Cách tiếp cận này đi ngược với xu hướng quản lý hiện đại của EU và ASEAN, nơi các quốc gia đều chuyển sang hậu kiểm khách quan, tập trung vào lấy mẫu thực tế trên thị trường và "khoanh vùng" sản phẩm rủi ro cao. Đây là phương pháp hiệu quả hơn, cần được xem xét áp dụng tại Việt Nam.
Cuối cùng, quy định này còn không thống nhất với chủ trương của Đảng và Nhà nước, cụ thể là Nghị quyết 68-NQ/TW về phát triển kinh tế tư nhân. Việc chỉ công nhận kết quả từ hệ thống kiểm nghiệm nhà nước tạo ra sự phân biệt đối xử giữa khu vực tư nhân và nhà nước, đồng thời tiềm ẩn nguy cơ quá tải nghiêm trọng cho hệ thống kiểm nghiệm nhà nước khi phải xử lý hàng triệu mẫu mỗi năm.
Từ những phân tích sâu sắc này, VCCI đã đưa ra đề xuất quan trọng là bỏ quy định bắt buộc kiểm nghiệm sản phẩm sau lưu thông tại hệ thống kiểm nghiệm nhà nước.
Ngoài vấn đề kiểm nghiệm, VCCI cũng chỉ ra hai điểm bất cập lớn khác liên quan đến thời hạn và thủ tục. Cụ thể, rút ngắn hiệu lực Phiếu công bố mỹ phẩm từ 5 năm xuống 3 năm. Điều này sẽ khiến doanh nghiệp phải làm lại thủ tục nhiều lần, gây tốn kém thời gian và chi phí, trong khi các quy định hiện hành về cập nhật thông tin khi có thay đổi đã đủ để quản lý. VCCI đề nghị giữ nguyên thời hạn 5 năm như hiện hành.
Tiếp đó là yêu cầu gia hạn công bố mỹ phẩm với thủ tục tương tự công bố mới. VCCI cho rằng yêu cầu này là không hợp lý, đặc biệt với các sản phẩm không có thay đổi quan trọng, làm gia tăng thủ tục hành chính và gây ùn ứ hồ sơ cho cơ quan quản lý. Điều này có thể dẫn đến gián đoạn nguồn cung sản phẩm trên thị trường. VCCI kiến nghị nên áp dụng cơ chế tự động gia hạn phiếu công bố sản phẩm mỹ phẩm.
Bên cạnh những điểm chính trên, VCCI còn lưu ý cần rà soát, sửa đổi các nội dung chưa rõ ràng, thiếu thống nhất khác như yêu cầu về giấy CFS (Certificate of Free Sale), quy định thời hạn thực hiện thay đổi thông tin trên Phiếu công bố, hay việc chuyển tiếp cho phép các sản phẩm đã công bố được tiếp tục sản xuất, lưu thông nếu đáp ứng an toàn, chất lượng.
Những góp ý của VCCI không chỉ thể hiện sự thấu hiểu sâu sắc về thực tiễn hoạt động của doanh nghiệp mà còn phản ánh tinh thần xây dựng, mong muốn chung tay cùng Bộ Y tế kiến tạo một khung pháp lý hiện đại, phù hợp với thông lệ quốc tế và chủ trương cải cách hành chính.