hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
Nhập email của bạn để lấy lại mật khẩu
Chiều 28/8, Bộ Công Thương đã tổ chức Hội thảo lần 1 "Quy hoạch tổng thể về năng lượng quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050".
Hội thảo nhằm tham vấn ý kiến đóng góp của các bên liên quan, các bộ, ngành, các viện nghiên cứu, các tổ chức quốc tế để đánh giá hiện trạng ngành năng lượng được đầy đủ, khách quan và củng cố phương pháp và các luận chứng trong việc lập Quy hoạch tổng thể năng lượng quốc gia.

Thực hiện nhiệm vụ được giao tại Quyết định số 1743/QĐ-TTg ngày 3/12/2019 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt nhiệm vụ lập quy hoạch năng lượng quốc gia thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050 (Quy hoạch tổng thể về năng lượng quốc gia), Bộ Công Thương đang triển khai xây dựng Quy hoạch tổng thể về năng lượng quốc gia.
Theo ông Đặng Hoàng An – Thứ trưởng Bộ Công Thương: “Kết cấu của đề án Quy hoạch tổng thể năng lượng có 13 chương, gồm 4 phần. Cụ thể, phần 1: Hiện trạng năng lượng quốc gia và kết quả thực hiện quy hoạch; phần 2 là tình hình và dự báo phát triển kinh tế xã hội và định hướng phát triển các phân ngành năng lượng; phần 3 là phương án phát triển kết cấu hạ tầng năng lượng thời kỳ 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050; phần 4 là cơ chế, giải pháp và tổ chức thực hiện quy hoạch tổng thể về năng lượng”.

Tại hội thảo này, các đại biểu tập trung thảo luận từ chương 1 đến chương 5 của Quy hoạch tổng thể về năng lượng quốc gia gồm: Hiện trạng năng lượng quốc gia; tình hình thực hiện quy hoạch các phân ngành năng lượng; tình hình và dự báo phát triển kinh tế – xã hội; hiện trạng sử dụng năng lượng và tiết kiệm năng lượng; tiềm năng khả năng khai thác, cung cấp và định hướng phát triển sản xuất các phân ngành năng lượng…
Hội thảo cũng nhấn mạnh việc xây dựng phương án quy hoạch kết cấu hạ tầng cho 4 phân ngành chính: phân ngành than, phần ngành dầu khí, phân ngành điện lực và phân ngành năng lượng tái tạo.
Với phân ngành than, cần tập trung thăm dò, khai thác, sàng tuyển và chế biến than, vận tải ngoài, định hướng phát triển cảng xuất và nhập khẩu than, khả năng nhập khẩu than và định hướng phát triển thị trường than. Ông Nguyễn Việt Cường – Phó Giám đốc công ty cổ phần Tư vấn đầu tư mỏ và công nghiệp Vinacomin nói về định hướng khai thác than: “Cần tập trung phát triển các mỏ sản lượng lớn theo tiêu chí Mỏ xanh, mỏ hiện đại, mỏ sản lượng cao. Bên cạnh đó, cũng cần áp dụng công nghệ khai thác than hầm mỏ với việc sử dụng các tổ hợp khai thác cơ giới hóa đồng bộ, bán cơ giới và thiết bị công nghệ đào lò tiên tiến. Ngoài ra, cần tăng cường áp dụng hệ thống khai thác theo lớp đứng, công nghệ khai thác chọn lọc và khai thác vỉa mỏng; công nghệ đổ thải bãi thải tạm và bãi thải trong cho mỏ lộ thiên. Đặc biệt chú trọng tăng cường hợp tác quốc tế trong chuyển giao công nghệ khai thác đào chống lò vì neo và thi công giếng đứng mỏ”.
Với phân ngành dầu khí, T.S Nguyễn Anh Đức, đại diện Viện Dầu khí Việt Nam chỉ rõ: “cần tìm kiếm, thăm dò, khai thác dầu khí, công nghiệp khí, chế biến khí, hệ thống tồn trữ và phân phối sản phẩm dầu khí”. Theo đánh giá của Viện Dầu khí Việt Nam, phân ngành dầu khí đa số vượt mục tiêu quy hoạch đến năm 2020, trừ khai thác dầu nước ngoài, phát triển thị trường khí, sản xuất dầu mỏ hóa lỏng (LPG) và sản phẩm hóa dầu.
Với phân ngành điện lực, T.S Nguyễn Anh Tuấn, đại diện Viện Năng lượng Việt Nam cho biết: hệ thống truyền tải điện đã được đầu tư và nâng cấp, về cơ bản đã đảm bảo được nhu cầu truyền tải điện. Lưới điện truyền tải 500kV Bắc – Trung – Nam đóng vai trò rất quan trọng trong an ninh cung cấp điện và tối ưu hóa chi phí sản xuất điện. Tuy nhiên vẫn còn xuất hiện một số điểm xuất hiện quá tải cục bộ, hệ thống truyền tải điện chưa đáp ứng được tiêu chí N-1.
Ngoài ra, việc quy hoạch điện có liên quan tới nhiều quy hoạch của các ngành như Than, Dầu khí, Năng lượng tái tạo, Quy hoạch phát triển kinh tế xã hội, Quy hoạch giao thông…, thực tế khó có khả năng đồng bộ các quy hoạch này, các số liệu phục vụ quy hoạch chưa hoàn toàn đầy đủ, thiếu đồng bộ. Hơn nữa, quy hoạch điện trong thời kỳ vừa qua còn mang tính “cứng”, xác định cả quy mô, thời điểm vận hành và chủ đầu tư các công trình điện lực nên thiếu tính linh hoạt trong triển khai thực hiện. Đặc biệt, giá điện của Việt Nam còn chưa thực sự hấp dẫn đối với các nhà đầu tư, dẫn tới khó khăn cũng như khu vực tư nhân, khu vực đầu tư nước ngoài.
Phân ngành năng lượng tái tạo (NLTT) hiện nay đang có sự phát triển vượt bậc nhờ có sự hỗ trợ về cơ chế (giá mua) nhưng bên cạnh đó còn có một số vấn đề vướng mắc gây trở ngại cho sự phát triển này. Khó khăn về năng lực các nhà đầu tư, nhà thầu trong nước còn hạn chế về cả tài chính và kỹ thuật. Đặc biệt, chúng ta chưa làm chủ hoàn toàn công nghệ NTLL, hầu hết là thiết bị nhập khẩu từ những nước tiến tiến hơn.
Trong tương lai để phát triển NLTT chúng ta cần chủ động các định hướng chiến lược sớm, xây dựng nhiều kịch bản để tránh bị động trong việc điều hành và chính sách hỗ trợ. Bên cạnh đó, cố định hướng chiến lược một cách xuyên suốt, dài hơi, có lộ trình cụ thể, chi tiết, sự hỗ trợ phải ổn định và lâu dài rõ ràng, đối với nhà đầu tư. Hơn nữa, NLTT cần được Quy hoạch mang tính định hướng hơn, chỉ tiêu danh mục những công trình quan trọng, những dự án đã chuẩn xác, tạo tính linh hoạt trong thực hiện. Độ trễ trong đầu tư lưới NLTT khá nhỏ nên xem xét các phương án điều hành mềm dẻo.
Dự kiến, đến tháng 10-11/2020, Bộ sẽ hoàn thiện và trình Thủ tướng nội dung toàn thể chiến lược quy hoạch.
Trần Thùy – Linh Chi