Thứ ba, 09/09/2025 22:18 (GMT+7)

Việt Nam hùng cường trong kỷ nguyên số

Lê Phượng

Chiều 5/9, tại Trung tâm Triển lãm quốc gia (Đông Anh, Hà Nội), Báo Nhân Dân đã tổ chức tọa đàm với chủ đề “Khát vọng về một Việt Nam hùng cường trong kỷ nguyên số và phát triển vượt bậc của khoa học – công nghệ”, trong khuôn khổ không gian Triển lãm 95 năm Cờ Đảng soi đường.

Sự kiện diễn ra trong bối cảnh thế giới đang trải qua những biến động lớn, từ cạnh tranh công nghệ khốc liệt, biến đổi khí hậu ngày càng gay gắt cho đến những thay đổi sâu sắc trong mô hình phát triển kinh tế toàn cầu. Trước thách thức và thời cơ đan xen ấy, Việt Nam bước vào giai đoạn phát triển mới, mang trong mình khát vọng vươn lên trở thành một quốc gia hùng cường.

 

Ảnh minh hoạ. Nguồn: IT
Tọa đàm với chủ đề “Khát vọng về một Việt Nam hùng cường trong kỷ nguyên số và phát triển vượt bậc của khoa học – công nghệ”

 

Theo góc nhìn của giới chuyên gia và cộng đồng doanh nghiệp, khát vọng này không chỉ dừng lại ở những tuyên ngôn chính trị, mà đã và đang được cụ thể hóa bằng các nghị quyết chiến lược, những định hướng dài hạn và sự đồng thuận của toàn xã hội. Cuộc trao đổi với PGS.TS Trần Đình Thiên – Nguyên Viện trưởng Viện Kinh tế Việt Nam, GS.TS Lê Anh Tuấn – Chủ tịch Hội đồng Đại học Bách Khoa Hà Nội, và ông Nguyễn Đạt – Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Viettel, đã phần nào vẽ nên con đường để hiện thực hóa giấc mơ Việt Nam hùng cường trong kỷ nguyên số.

 

Khát vọng quốc gia hùng cường và bốn trụ cột phát triển

 

PGS.TS Trần Đình Thiên nhận định rằng, sau hơn bốn thập kỷ đổi mới, Việt Nam đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng: nền kinh tế duy trì tăng trưởng liên tục, tỷ lệ nghèo đói giảm sâu, đời sống người dân không ngừng cải thiện, và vị thế quốc tế ngày càng được nâng cao. Tuy nhiên, chúng ta vẫn chỉ dừng lại ở mức quốc gia có thu nhập trung bình thấp. Theo ông, “hùng cường” không chỉ gắn với tốc độ tăng trưởng GDP, mà quan trọng hơn là sự thịnh vượng của người dân. Giàu có phải được nhìn nhận không chỉ trên phương diện vật chất, mà còn ở khía cạnh tinh thần, đặc biệt là sự giàu có về sáng tạo và tri thức là những nguồn lực nền tảng và bền vững nhất.

 

Một quốc gia hùng cường, theo ông Thiên, phải độc lập, tự chủ về kinh tế, không phụ thuộc quá mức vào nguồn lực bên ngoài. Chỉ khi làm chủ được vận mệnh phát triển, hội nhập quốc tế với tư thế bình đẳng và trách nhiệm, Việt Nam mới có thể khẳng định vị thế. Thước đo cao nhất của thời đại, ông nhấn mạnh, chính là năng lực sáng tạo cùng vị thế trong khoa học – công nghệ. Đó là chuẩn mực để đánh giá một dân tộc có thực sự vươn lên hàng đầu hay không.

 

PGS.TS Trần Đình Thiên
Theo PGS.TS Trần Đình Thiên, “hùng cường” không chỉ gắn với tốc độ tăng trưởng GDP, mà quan trọng hơn là sự thịnh vượng của người dân

 

Để hiện thực hóa khát vọng ấy, Bộ Chính trị đã chỉ ra bốn trụ cột nền tảng là “Bộ tứ Nghị quyết”: doanh nghiệp tư nhân với vai trò động lực then chốt; Nhà nước kiến tạo và phục vụ, xây dựng hành lang pháp lý thông thoáng; khoa học – công nghệ là thước đo và sức mạnh cạnh tranh quốc tế; và hội nhập quốc tế nhằm tận dụng sức mạnh của công nghệ, vốn, thị trường và tri thức toàn cầu. Theo ông Thiên, bốn trụ cột này mở ra không gian phát triển mới, tạo cơ hội bứt phá để tháo gỡ những điểm nghẽn lịch sử. “Nếu tận dụng được thời cơ, Việt Nam hoàn toàn có thể bước vào quỹ đạo mới, sánh vai cùng các cường quốc”, ông khẳng định.

 

PGS.TS Trần Đình Thiên phân tích thêm, từ Đại hội Đảng IV, khái niệm “cách mạng khoa học kỹ thuật” đã được đặt ra; hai thập kỷ sau, Đảng tiếp tục nhấn mạnh “kinh tế tri thức”. Tuy nhiên, cho đến nay, chúng ta vẫn chưa tạo được bước bứt phá lớn. Nghị quyết 57 là sự kết tinh của cả quá trình tích lũy nhận thức ấy, được ban hành đúng thời điểm toàn cầu bước vào chuyển đổi số, nhằm khẳng định rằng trí tuệ và đổi mới sáng tạo chính là nền tảng bứt phá của Việt Nam.

 

Ông chỉ rõ ba nút thắt lớn đang cản trở: thể chế chậm cải cách, gây hạn chế cho sáng tạo; năng lực doanh nghiệp trong nước còn yếu, thiếu vốn và thiếu sự liên kết; hội nhập quốc tế chưa đủ tầm để khai thác sức mạnh trí tuệ Việt trên quy mô toàn cầu. “Đây là điểm nghẽn của điểm nghẽn, nếu không tháo gỡ sẽ rất khó bứt phá”, ông nhấn mạnh.

 

Theo PGS.TS Thiên, thời đại này đòi hỏi cả trí tuệ và bản lĩnh: trí tuệ để vượt qua lối sống dựa vào kinh nghiệm, vươn lên bằng sáng tạo; bản lĩnh để đối diện với khó khăn, biến thách thức thành cơ hội. “Ở tầm quốc gia, Việt Nam phải vươn mình, sánh vai cùng nhân loại. Khi làm được, chúng ta sẽ hội tụ đầy đủ những giá trị cao quý nhất của một quốc gia hùng cường”, ông khẳng định.

 

Giáo dục và nguồn nhân lực số là chìa khóa để bứt phá

 

GS.TS Lê Anh Tuấn – Chủ tịch Hội đồng Đại học Bách Khoa Hà Nội – cho rằng, trong bốn trụ cột phát triển, khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số chỉ có thể phát huy sức mạnh khi quốc gia sở hữu nguồn nhân lực chất lượng cao. “Nhân lực số là điều kiện tiên quyết, là chìa khóa để hiện thực hóa khát vọng Việt Nam hùng cường”, ông nhấn mạnh.

 

GS.TS Lê Anh Tuấn – Chủ tịch Hội đồng Đại học Bách Khoa Hà Nội – cho rằng, trong bốn trụ cột phát triển, khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số chỉ có thể phát huy sức mạnh khi quốc gia sở hữu nguồn nhân lực chất lượng cao. “Nhân lực số là điều kiện tiên quyết, là chìa khóa để hiện thực hóa khát vọng Việt Nam hùng cường”, ông nhấn mạnh.
GS.TS Lê Anh Tuấn – Chủ tịch Hội đồng Đại học Bách Khoa Hà Nội cho rằng, nhân lực số là điều kiện tiên quyết, là chìa khóa để hiện thực hóa khát vọng Việt Nam hùng cường

 

Việt Nam hiện có lợi thế về dân số trẻ với khoảng 50 triệu người trong độ tuổi lao động. Tuy vậy, tỷ lệ lao động có trình độ đại học trở lên chỉ đạt 12,7%, thấp hơn nhiều so với Philippines (25%), và còn cách xa các quốc gia phát triển (40–50%). Trong khi đó, cuộc cách mạng công nghệ đang đòi hỏi ngày càng cao về nhân lực, đặc biệt trong các lĩnh vực then chốt như trí tuệ nhân tạo, dữ liệu lớn, an ninh mạng, công nghệ sinh học… Nếu không nhanh chóng nâng cao chất lượng nhân lực, Việt Nam sẽ bỏ lỡ cơ hội vàng mà kỷ nguyên số mang lại.

 

Tháng 8/2025, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 71 về đột phá phát triển giáo dục là một cú hích chiến lược để thay đổi căn bản hệ thống giáo dục. Theo GS.TS Tuấn, nghị quyết này mở đường cho các trường đại học, viện nghiên cứu và hệ thống đào tạo nghề được trao quyền tự chủ, khuyến khích đổi mới phương pháp, áp dụng công nghệ trong giảng dạy, đồng thời gắn chặt hơn với nhu cầu của thị trường lao động. “Không có nhân lực chất lượng cao, chúng ta khó có thể làm chủ công nghệ, càng khó để sáng tạo giá trị toàn cầu”, ông cảnh báo.

 

Tuy nhiên, con đường này không bằng phẳng. GS.TS Lê Anh Tuấn chỉ ra sự lệch pha giữa nhu cầu nhân lực số và chương trình đào tạo hiện hành. Kỹ năng số chưa được phổ cập, giảng viên nhiều nơi chưa sẵn sàng để dạy các công cụ mới như trí tuệ nhân tạo. Ông cho rằng cần một “phong trào bình dân học vụ số” để phổ cập kỹ năng số cơ bản cho toàn dân, tương tự phong trào xóa mù chữ trước kia. Nhưng phong trào này chỉ khả thi nếu có đội ngũ giảng viên chất lượng, được trao quyền tự chủ và khuyến khích đổi mới.

 

Về thế hệ kỹ sư tương lai, GS.TS Tuấn nhấn mạnh họ phải hội tụ hai phẩm chất: sáng tạo và thích ứng. “Sáng tạo chỉ có thể nảy nở trên nền tảng tri thức, còn thích ứng là năng lực sống còn trong thế giới biến động liên tục”, ông khẳng định.

 

Chuyển đổi số là cơ hội lịch sử của doanh nghiệp Việt Nam

 

Ở góc nhìn doanh nghiệp, ông Nguyễn Đạt – Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Viettel – cho rằng chuyển đổi số là một cuộc cách mạng mới, nối tiếp truyền thống của các cuộc cách mạng khoa học – công nghệ trước đây. “Nó sẽ làm thay đổi phương thức sản xuất, nâng cao năng suất lao động, mở ra những ngành nghề mới và tăng cường năng lực cạnh tranh quốc gia”, ông nhấn mạnh.

 

ông Nguyễn Đạt – Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Viettel – cho rằng chuyển đổi số là một cuộc cách mạng mới, nối tiếp truyền thống của các cuộc cách mạng khoa học – công nghệ
Ông Nguyễn Đạt – Phó Tổng Giám đốc Tập đoàn Viettel cho rằng, chuyển đổi số là một cuộc cách mạng mới, nối tiếp truyền thống của các cuộc cách mạng khoa học – công nghệ trước đây

 

Ông Đạt chia sẻ, Viettel đã trải qua bốn giai đoạn phát triển: xây lắp hạ tầng viễn thông, kinh doanh di động, mở rộng sang công nghệ thông tin, và hiện nay là công nghệ cao. Ở giai đoạn này, Viettel đã bước lên phân khúc cao nhất của chuỗi giá trị toàn cầu, một lĩnh vực vốn chỉ dành cho các quốc gia phát triển. Theo ông, đây không chỉ là nhu cầu tất yếu của một tập đoàn công nghệ, mà còn là minh chứng sống động cho cơ hội lịch sử mà Việt Nam đang nắm giữ. “Cuộc cách mạng số dựa trên trí tuệ là một lợi thế nổi bật của người Việt. Chỉ cần một chiếc máy tính, ta có thể tạo ra phần mềm phục vụ toàn cầu. Đây chính là con đường để Việt Nam phát triển độc lập và bứt phá”, ông nhấn mạnh.

 

Theo ông Đạt, Nghị quyết 57 cũng tháo gỡ nhiều nút thắt cho doanh nghiệp. “Trước đây, doanh nghiệp nhà nước khó đầu tư mạo hiểm vì cơ chế và tâm lý không chấp nhận thất bại. Nhưng khoa học – công nghệ vốn gắn liền với rủi ro. Nghị quyết 57 đã thay đổi, cho phép doanh nghiệp thử nghiệm, dám đầu tư mạnh mẽ hơn. Đây là cơ hội vàng cho các tập đoàn như Viettel và cho toàn bộ hệ sinh thái đổi mới sáng tạo của Việt Nam”, ông phân tích.

 

Tuy vậy, ông cũng thẳng thắn chỉ ra rào cản lớn nhất hiện nay là thói quen làm việc cũ. “Chuyển đổi số đòi hỏi thay đổi quy trình, áp dụng công nghệ, xử lý công việc theo tiêu chuẩn thời gian. Điều này gây áp lực nhưng đồng thời mang lại hiệu quả vượt trội”, ông chia sẻ. Ngoài ra, kỹ năng số của người lao động còn hạn chế, cả trong lĩnh vực dịch vụ công lẫn quản trị doanh nghiệp. Chính vì vậy, Viettel cũng tích cực tham gia các chương trình đào tạo, góp phần vào phong trào “bình dân học vụ số”.

 

Gửi gắm đến thế hệ trẻ, ông Nguyễn Đạt nhấn mạnh ba điều: hãy yêu công việc mình làm, rèn luyện sức khỏe và sự kiên nhẫn, và quan trọng nhất là học cách làm việc cũ theo một cách mới, bởi đó chính là sáng tạo.