hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
Nhập email của bạn để lấy lại mật khẩu
Sáng ngày 12/3, tại Hà Nội, Phòng thương mại và Công nghiệp Việt Nam (VCCI) kết hợp với Ngân hàng thế giới Việt Nam (The World Bank) tổ chức lễ công bố báo cáo tác động của dịch bệnh COVID-19 đối với doanh nghiệp Việt Nam và Một số phát hiện chính từ điều tra doanh nghiệp năm 2020.

Báo cáo “tác động của dịch bệnh COVID-19 đối với doanh nghiệp Việt Nam: Một số phát hiện chính từ điều tra doanh nghiệp năm 2020” được xây dựng trên kết quả khảo sát hơn 10.000 doanh nghiệp từ 63 tỉnh, thành phố trên cả nước trong năm vừa qua.
Tại buổi báo cáo, ông Vũ Tiến Lộc – Chủ tịch VCCI cho biết, nghiên cứu này được VCCI và WB thống nhất thực hiện nhằm nhận diện tác động của dịch Covid-19 lên hoạt động sản xuất kinh doanh của các doanh nghiệp tại Việt Nam.
Ngoài ra còn tìm hiểu khả năng ứng phó của các doanh nghiệp; đánh giá của doanh nghiệp về khả năng tiếp cận thông tin cũng như mức độ hữu ích của một số chính sách hỗ trợ mà Nhà nước đã ban hành để hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua khó khăn do dịch Covid-19.
“Đây sẽ là những thông tin cần thiết để hỗ trợ quá trình hoạch định và thực thi chính sách của Nhà nước nhằm giảm bớt các tác động tiêu cực của dịch Covid-19 cũng như tạo điều kiện thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp hồi phục và ổn định hoạt động trong bối cảnh bình thường mới”, chủ tịch VCCI nhấn mạnh.

Kết quả khảo sát cho thấy năm 2020 là một năm đầy khó khăn khi gần 90% doanh nghiệp bị tác động nặng nề bởi dịch bệnh với nhiều hệ lụy như giảm sút khả năng tiếp cận khách hàng, mất cân bằng về dòng tiền, chuỗi cung ứng bị gián đoạn. Nhiều doanh nghiệp đã phải cho lao động nghỉ việc, ngừng hoạt động thậm chí phá sản và đối tượng doanh nghiệp chịu ảnh hưởng nặng nề nhất là các doanh nghiệp có quy mô nhỏ và siêu nhỏ, các doanh nghiệp trẻ chưa đầy 3 năm tuổi.
Do tác động của Covid, 2020 cũng là năm mà mức tăng trưởng GDP của đất nước ở mức thấp nhất, chưa bằng một nửa so với những năm trước đây,và cũng là năm mà số lượng doanh nghiệp rút khỏi thị trường đạt mức kỷ lục vượt ngưỡng 100 ngàn doanh nghiệp.
Về các chính sách của Nhà nước hỗ trợ cho các doanh nghiệp, kết quả khảo sát cho thấy một số chính sách như: gia hạn đóng thuế thu nhập doanh nghiệp, gia hạn đóng thuế giá trị gia tăng nhìn chung dễ tiếp cận hơn cả. Việc vay lãi suất 0% trả lương cho người lao động được đánh giá là chính sách khó tiếp cận nhất. Phân theo khu vực kinh tế, doanh nghiệp tư nhân quy mô vừa hoặc lớn có xu hướng đánh giá việc tiếp cận các chính sách thuận lợi hơn.
Về tính hữu ích của các chính sách, có ba chính sách được các doanh nghiệp đánh giá cao nhất bao gồm: gia hạn đóng thuế giá trị gia tăng, gia hạn đóng thuế thu nhập doanh nghiệp và gia hạn nộp tiền thuê đất.
Dù các doanh nghiệp cho biết khó tiếp cận chính sách vay lãi suất 0% để trả lương cho người lao động, nhưng các doanh nghiệp vẫn đánh giá cao sự cần thiết của chính sách này.
Doanh nghiệp tư nhân nhìn nhận tích cực hơn so với các doanh nghiệp FDI về mức độ hữu ích của các chính sách khi tất cả các chính sách được nêu ra đều nhận trên 75% ý kiến ghi nhận mức độ hữu ích.
Nhìn chung, kết quả cho thấy những doanh nghiệp nào dễ tiếp cận thông tin về chính sách hỗ trợ hơn, thì có xu hướng đánh giá mức độ hữu ích của chính sách cao hơn.
Theo đó, VCCI có đưa ra một số kiến nghị như sau:
Thứ nhất, cần ưu tiên cải thiện năng lực thực thi. Theo đó, cần có những hướng dẫn cụ thể, chi tiết và đầy đủ về các thủ tục, quy trình thực hiện theo hướng đơn giản, dễ thực hiện đối với các doanh nghiệp.
Thứ hai, đối với các chính sách đã ban hành, các bộ, ngành, chính quyền địa phương cần chủ động nắm bắt tình hình triển khai. Cần quan tâm hơn nữa các doanh nghiệp có quy mô nhỏ,siêu nhỏ bởi khả năng chống chịu kém của nhóm doanh nghiệp này.
Thứ ba, cần xây dựng chính sách phát triển công nghiệp, dịch vụ hỗ trợ hướng bớt lệ thuộc vào nguồn cung từ bên ngoài, giảm tình trạng gia công đã kéo dài quá lâu, mặt khác cũng tạo thêm giá trị gia tăng và vị thế tốt hơn của Việt Nam Trong các chuỗi cung ứng toàn cầu, tạo thêm cơ hội hưởng lợi từ các FTA đòi hỏi hàm lượng xuất xứ nội địa/nội khối cao.
Thứ tư, cần có chính sách tạo thuận lợi hơn cho các doanh nghiệp tư nhân Việt Nam trụ lại được và có khả năng vượt lên sau dịch Covid-19, đặc biệt về đổi mới sáng tạo, đào tạo nhân lực chất lượng cao, sẵn sàng cho cuộc cạnh tranh mới.
Thứ năm, cần ban hành các gói chính sách hỗ trợ doanh nghiệp phục hồi và mở rộng đầu tư kinh doanh cho giai đoạn mới 2021-2025, bởi đại dịch Covid-19 vẫn tiếp tục có những tác động nghiêm trọng trên phạm vi toàn cầu và chỉ có thể loại trừ hoàn toàn sau 4-5 năm nữa.
Cuối cùng, cần lan tỏa và nhân rộng được các mô hình, cách làm tốt trong việc ứng phó với đại dịch Covid-19.
Trần Thùy