hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
Nhập email của bạn để lấy lại mật khẩu
Chỉ số giá tổng hợp ICO (I-CIP) trung bình đạt 267,57 cent Mỹ/pound trong tháng 2 năm 2026, giảm 9,9% so với tháng 1 năm 2026.

Nguyên nhân chính dẫn đến việc giảm này là triển vọng nguồn cung được cải thiện, bao gồm dự báo sản lượng tăng mạnh của Brazil, cùng với kỳ vọng về nguồn cung cà phê toàn cầu dư thừa trong niên vụ 2025/26.
Những biến động giá cà phê trên thị trường
Giá cà phê Colombian Mild và cà phê Other Mild đã giảm 11,0% và 11,7% trong tháng 2 năm 2026 so với tháng 1 năm 2026, trung bình lần lượt là 330,89 và 321,35 cent Mỹ/pound. Giá cà phê Brazilian Natural giảm 10,2% xuống còn 308,62 cent Mỹ/pound trong tháng 2 năm 2026. Trong cùng tháng, giá cà phê Robusta giảm 6,6% xuống còn 179,73 cent Mỹ/pound.
Chênh lệch giá giữa thị trường kỳ hạn London và New York giảm 20,7% xuống còn 122,70 cent Mỹ/pound trong tháng 2 năm 2026.
Xuất khẩu cà phê nhân toàn cầu tiếp tục tăng trong tháng 1 năm 2026, đạt 10,85 triệu bao, tăng 12,7% so với 9,63 triệu bao trong tháng 1 năm 2025.
Do đó, tỷ trọng cà phê Arabica trong tổng lượng xuất khẩu cà phê nhân sống trong 4 tháng đầu niên vụ cà phê 2025/26 đã giảm từ 66,4% xuống còn 61,1% so với cùng kỳ vụ trước.
Xuất khẩu các loại cà phê toàn cầu đã tăng 13,7% lên 12,62 triệu bao trong tháng 1 năm 2026 so với 11,1 triệu bao trong tháng 1 năm 2025. Khối lượng xuất khẩu tăng ở ba trong bốn khu vực, chỉ có Nam Mỹ là khu vực duy nhất ghi nhận sự sụt giảm.
Chỉ số giá tổng hợp ICO (I-CIP) trung bình đạt 267,57 cent Mỹ/pound trong tháng 2 năm 2026, giảm 9,9% so với tháng 1 năm 2026. Giá cà phê trong tháng 2 cho thấy xu hướng giảm.
Tháng 2 năm 2026 đánh dấu một bước ngoặt quan trọng đối với ngành cà phê toàn cầu. Chỉ số I-CIP giảm xuống mức thấp nhất kể từ ngày 1 tháng 8 năm 2025 (249,12 cent Mỹ/pound). Nguyên nhân chính là do việc đánh giá lại cán cân cung cầu toàn cầu, được thúc đẩy bởi dự báo về một vụ mùa kỷ lục của Brazil từ Công ty Cung ứng Quốc gia Brazil (Companhia Nacional de Abastecimento - CONAB), cùng với lượng mưa thuận lợi được xác nhận ở Minas Gerais, một vùng trồng cà phê trọng điểm của Brazil, và lượng mưa tốt ở Việt Nam. Sự hỗ trợ nhất thời từ các yếu tố theo mùa, biến động tiền tệ và việc mua vào của các nhà rang xay thương mại đã không đủ để bù đắp xu hướng giảm giá chiếm ưu thế. Trong khi cấu trúc thị trường vẫn ở trạng thái nghịch đảo, báo hiệu sự khan hiếm liên tục trong nguồn cung vật chất ngắn hạn, các yếu tố cơ bản hướng tới tương lai cho thấy rủi ro giảm giá ngày càng tăng: Rabobank dự báo thặng dư khoảng 8,64 triệu bao trong niên vụ 2026/27, sau ba năm liên tiếp thiếu hụt nguồn cung. Tương tự, Ngân hàng Thế giới dự báo giá cà phê Arabica sẽ giảm 13% trong năm 2026.
Diễn biến giá cà phê tháng 2 có thể được chia thành ba giai đoạn.
Giai đoạn 1 — Sụt giảm nhanh (Từ ngày 1 đến ngày 6 tháng 2):
• Trong những ngày đầu tháng, giá cà phê tiếp tục xu hướng giảm đã được quan sát vào cuối tháng Giêng, sau các báo cáo về lượng mưa đầy đủ tại các vùng trồng cà phê trọng điểm ở Brazil và dòng xuất khẩu mạnh từ Việt Nam. Hơn nữa, việc công bố dự báo của CONAB vào ngày 5 tháng 2 (66,2 triệu bao, tăng 17,1% so với cùng kỳ năm ngoái) đã xác nhận kỳ vọng về một vụ mùa bội thu ở Brazil niên vụ 2026/27.
• Khi giá vượt qua ngưỡng 330 cent Mỹ/pound một cách dứt khoát, một động lực thanh lý tự củng cố đã xuất hiện. Đặc biệt, cơ chế "quả cầu tuyết" kinh điển thường thấy ở các thị trường đầu cơ đã phát huy tác dụng, khi việc thanh lý các vị thế mua phi thương mại và sự gia tăng tổng số vị thế bán thương mại và phi thương mại đã đẩy nhanh việc giảm giá. Điều này có thể thấy trong Hình A, trong đó các vị thế mua phi thương mại đã giảm 15,8% từ ngày 27 tháng 1 năm 2026 đến ngày 3 tháng 2 năm 2026.
• Ngoài ra, số lượng hợp đồng mở đã giảm 14,6% xuống còn 156.645 từ ngày 3 đến ngày 17 tháng 2 năm 2026.
Giai đoạn 2 — Củng cố và ổn định giữa tháng (Từ ngày 6 đến ngày 16 tháng 2):
• Giá cả tạm thời ổn định trong giai đoạn này, được hỗ trợ từ kỳ nghỉ Tết Nguyên đán, làm giảm nguồn cung trong nước tại Việt Nam.
• Sự tăng giá của đồng Real Brazil (BRL) so với USD trong tháng đã làm giảm động lực bán kỳ hạn của nông dân Brazil (USD/BRL là 5,2594 vào ngày 2 tháng 2 so với 5,1242 vào ngày 25 tháng 2, tăng 2,6%). Đồng Real mạnh hơn có nghĩa là người sản xuất nhận được ít BRL hơn cho mỗi hợp đồng kỳ hạn định giá bằng USD, làm tăng ngưỡng mà việc bán kỳ hạn trở nên hấp dẫn.
• Việc tỷ giá EUR/USD tăng giá đã tạo ra hiệu ứng hỗ trợ bổ sung cho giá cà phê Robusta, do người mua châu Âu — chiếm khoảng 60% lượng xuất khẩu cà phê của Việt Nam.
Giai đoạn 3 — Chặng giảm thứ hai và giai đoạn ổn định (Từ ngày 16 đến ngày 27 tháng 2)
• Việc thay thế cà phê Arabica bằng Robusta đang thúc đẩy việc tái cấu trúc các hỗn hợp rang xay, dần làm giảm nhu cầu Arabica trong khi tăng nhu cầu Robusta. Hiệu ứng thay thế này đã góp phần hỗ trợ và ổn định giá cả trong những ngày cuối tháng.
• Áp lực giá cả đối với người tiêu dùng: Giá cà phê bán lẻ tại Mỹ đã tăng 18,3% so với cùng kỳ năm trước vào tháng 1 năm 2026, đưa mức tăng lũy kế 5 năm lên 47%. Áp lực nợ tiêu dùng gia tăng báo hiệu sự suy yếu của nhu cầu mới nổi, tạo ra một tín hiệu giảm giá dài hạn.
Hơn nữa, cấu trúc đường cong kỳ hạn trong suốt tháng 2 vẫn duy trì trạng thái nghịch đảo đáng kể, với các hợp đồng kỳ hạn gần nhất được giao dịch ở mức giá cao hơn đáng kể so với các hợp đồng kỳ hạn xa hơn. Từ góc độ cấu trúc thị trường, điều này tạo ra động lực hợp lý cho những người nắm giữ hàng tồn kho vật chất giao hàng vào sàn giao dịch, vì lợi nhuận từ việc nắm giữ hàng tồn kho là âm. Do đó, mặc dù việc giao hàng vào sàn giao dịch đã diễn ra, lượng hàng tồn kho trên sàn vẫn thấp hơn mức trung bình lịch sử. Điều này cho thấy nhu cầu ngắn hạn đối với cà phê vẫn ổn định
Chênh lệch giá giữa cà phê Colombian Mild và Other Mild đã tăng từ 7,65 lên 9,54 cent Mỹ/pound trong khoảng thời gian từ tháng 1 đến tháng 2 năm 2026. Chênh lệch giá giữa Colombian Mild và Brazilian Natural giảm 20,0% xuống còn 22,27 cent Mỹ/pound, trong khi chênh lệch giá giữa Colombian Mild và Robusta cũng giảm 15,6% từ tháng 1 đến tháng 2 năm 2026 xuống còn 151,16 cent Mỹ/pound. Trong khi đó, chênh lệch giá giữa Other Mild và Brazilian Natural, cũng như giữa Other Mild và Robusta, đã giảm lần lượt 36,9% và 17,4% xuống còn 12,73 và 141,62 cent Mỹ/pound. Chênh lệch giá giữa Brazilian Natural và Robusta đã giảm 14,8% xuống còn 128,89 cent Mỹ/pound trong tháng 2 năm 2026.
Chênh lệch giá giữa thị trường kỳ hạn London và New York đã giảm 20,7% xuống còn 122,70 cent Mỹ/pound trong tháng 2 năm 2026.
Biến động giá trong ngày của chỉ số I-CIP tăng 1,8 điểm phần trăm so với tháng 1 năm 2026, đạt mức trung bình 9,9% trong tháng 2 năm 2026. Biến động giá của cà phê Colombian Mild và loại cà phê Other Mild cũng theo xu hướng tương tự, tăng lên lần lượt là 9,0% và 10,1%.
Trong khi đó, biến động giá của cà phê Brazilian Natural tăng 1,5 điểm phần trăm so với tháng trước, lên 11,9% trong tháng 2 năm 2026. Biến động giá của cà phê Robusta tăng lên 10,2%. Tại thị trường hợp đồng kỳ hạn New York và London, biến động giá lần lượt ở mức 10,4% và 10,7%, tăng 1,1 và 3,0 điểm phần trăm trong tháng 2 năm 2026 so với tháng 1 năm 2026.
Lượng tồn kho cà phê Robusta được chứng nhận tại London đã tăng 0,7% từ tháng 1 đến tháng 2 năm 2026, chốt tháng ở mức 0,76 triệu bao. Lượng tồn kho cà phê Arabica được chứng nhận tại New York cũng theo xu hướng tương tự, tăng lên 0,52 triệu bao, tăng 12,0% so với tháng 1 năm 2026.
Xuất khẩu của các nhóm cà phê
Trong tháng 1 năm 2026, tổng lượng xuất khẩu cà phê nhân toàn cầu đạt 10,85 triệu bao, tăng 12,7% so với 9,63 triệu bao trong tháng 1 năm 2025.
Xuất khẩu cà phê nhân Robusta đã tăng 49,1% lên 5,25 triệu bao trong tháng 1 năm 2026 so với 3,52 triệu bao trong tháng 1 năm 2025, chủ yếu nhờ Việt Nam, với lượng hàng xuất khẩu tăng 73,3% lên 3,69 triệu bao. Ấn Độ, Indonesia và Uganda cũng đóng góp tích cực, với tổng lượng xuất khẩu tăng 20,4% lên 1,2 triệu bao so với 1 triệu bao trong tháng 1 năm 2025.
Trong trường hợp của Việt Nam và Brazil, những thay đổi mạnh mẽ so với cùng kỳ niên vụ trước chủ yếu phản ánh sự bình thường hóa hơn là sự chuyển dịch cấu trúc: Việt Nam đã phục hồi sau giai đoạn sụt giảm do nguồn cung, trong khi Brazil sụt giảm so với mức xuất khẩu cao bất thường được ghi nhận từ 3 tháng cuối niên vụ cà phê 2022/23 đến 3 tháng đầu niên vụ cà phê 2024/25, khi nước này lấp đầy khoảng trống nguồn cung Robusta toàn cầu do lượng hàng xuất khẩu từ Indonesia và Việt Nam bị cắt giảm. Brazil đã xuất khẩu 9,37 triệu bao trong niên vụ 2023/24, cao hơn nhiều so với mức trung bình 5 năm là 3,52 triệu bao. Ngược lại, sự tăng trưởng của Uganda dường như mang tính cấu trúc, với xuất khẩu duy trì xu hướng tăng kể từ giữa niên vụ 2023/24. Lượng hàng xuất khẩu đạt mức kỷ lục 7,32 triệu bao trong niên vụ 2024/25, được hỗ trợ bởi sản lượng tăng, giá quốc tế cao và việc giảm lượng hàng tồn kho. Uganda đã đặt mục tiêu sản xuất chính thức là 20 triệu bao vào năm 2030.
Xuất khẩu cà phê Colombian Mild giảm 19,5% trong tháng 1 năm 2026 xuống còn 0,99 triệu bao so với 1,23 triệu bao trong tháng 1 năm 2025. Điều này đánh dấu tháng tăng trưởng âm thứ ba liên tiếp sau 25 tháng tăng trưởng liên tục.
Lượng xuất khẩu loại cà phê "Other Mild" tăng 33,8% trong tháng 1 năm 2026, đạt 1,94 triệu bao so với 1,45 triệu bao trong cùng kỳ năm 2025. Honduras và Nicaragua là động lực chính thúc đẩy tăng trưởng hai chữ số của nhóm này, với xuất khẩu tăng lần lượt 53,0% và 108,0% trong tháng 1 năm 2026.
Xuất khẩu cà phê nhân của nhóm cà phê "Brazilian Natural" giảm 22,2% trong tháng 1 năm 2026 xuống còn 2,66 triệu bao so với 3,42 triệu bao trong tháng 1 năm 2025. Tổng lượng xuất khẩu cà phê Arabica giảm xuống còn 5,59 triệu bao trong tháng 1 năm 2026, giảm 8,3% so với 6,1 triệu bao trong tháng 1 năm 2025. Kết quả là, thị phần cà phê Arabica trong tổng lượng xuất khẩu hạt cà phê xanh trong bốn tháng đầu năm cà phê 2025/26 giảm xuống còn 61,1% từ 66,4% so với cùng kỳ năm trước.
Xuất khẩu toàn cầu các loại cà phê đã tăng 13,7% lên 12,62 triệu bao trong tháng 1 năm 2026 so với 11,1 triệu bao trong tháng 1 năm 2025. Khối lượng xuất khẩu tăng ở ba trong bốn khu vực, chỉ có Nam Mỹ là khu vực duy nhất ghi nhận sự sụt giảm.
Xuất khẩu tất cả các loại cà phê từ châu Á và châu Đại Dương tăng 54,4% lên 5,87 triệu bao trong tháng 1 năm 2026 so với 3,8 triệu bao trong tháng 1 năm 2025. Sự tăng trưởng hai chữ số của khu vực được Việt Nam dẫn đầu, với xuất khẩu tăng 67,0% lên 4,33 triệu bao, tăng từ 2,59 triệu bao cùng kỳ năm trước.
Xuất khẩu tất cả các loại cà phê từ châu Phi đã tăng 15,3% trong tháng 1 năm 2026, đạt 1,27 triệu bao so với 1,1 triệu bao trong tháng 1 năm 2025.
Xuất khẩu tất cả các loại cà phê của Nam Mỹ giảm 21,3% trong tháng 1 năm 2026, xuống còn 4,0 triệu bao từ 5,08 triệu bao trong tháng 1 năm 2025. Nam Mỹ ghi nhận tháng tăng trưởng âm thứ 15 liên tiếp trong tháng 1 năm 2026, sau chuỗi 16 tháng tăng trưởng tích cực. Xuất khẩu của Colombia giảm 19,4% trong tháng 1 năm 2026 xuống còn 0,94 triệu bao từ 1,16 triệu bao trong tháng 1 năm 2025. Đây là tháng thứ hai liên tiếp xuất khẩu của Colombia giảm, nguyên nhân chính là do sản lượng giảm. Liên đoàn Quốc gia những người trồng cà phê Colombia báo cáo rằng sản lượng tháng 1 năm 2026 giảm xuống còn 0,89 triệu bao từ 1,36 triệu bao trong tháng 1 năm 2025, giảm 34,1%.
Xuất khẩu tất cả các loại cà phê từ Mexico và Trung Mỹ đã tăng 33,5% trong tháng 1 năm 2026, đạt 1,48 triệu bao so với 1,11 triệu bao trong tháng 1 năm 2025.
Hầu hết khu vực Mexico và Trung Mỹ đều chịu ảnh hưởng của hạn hán diện rộng từ tháng 1 đến giữa tháng 6 năm 2024, kèm theo các đợt nắng nóng gay gắt vào tháng 5 năm 2024, được báo cáo là đã ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình ra hoa.