hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
Nhập email của bạn để lấy lại mật khẩu
Theo số liệu thống kê, trong tháng 03 năm 2024, Việt Nam xuất khẩu khoảng 185.281 tấn cà phê, kim ngạch xuất khẩu khoảng 680,86 triệu USD, giảm 11,9% về lượng nhưng tăng 41,1% về giá trị so với cùng kỳ năm ngoái.
Tính chung 3 tháng đầu năm 2024, Việt Nam xuất khẩu khoảng 579.449 tấn cà phê, kim ngạch xuất khẩu khoảng 1,93 tỷ USD, tăng 4,9% về lượng và tăng 57,3% về giá trị so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, cà phê Robusta nhiều nhất với 515.164 tấn, kim ngạch trên 1,57 tỷ USD, còn cà phê nhân Arabica chỉ xuất khẩu 16,474 tấn, kim ngạch trên 69,27 triệu USD. Cà phê rang xay và hòa tan xuất khẩu khoảng 35.853 tấn, kim ngạch trên 246,41 triệu USD (khối lượng cà phê rang xay và hòa tan chiếm khoảng 6,2% và kim ngạch chiếm khoảng 12,8% tổng các loại cà phê xuất khẩu)
Về thị trường xuất khẩu cà phê nhân của Việt Nam trong 3 tháng đầu năm 2024: Thị trường Châu u nhập khẩu khoảng 278.718 tấn cà phê nhân của Việt Nam, chiếm 51,3% còn thị trường EU chiếm khoảng 43,1%, trong đó Đức dẫn đầu với khối lượng 69.924 tấn, Italy thứ 2 với 63.952 tấn, Tây Ban Nha thứ 3 với 43.287 tấn. Hoa Kỳ thứ 4 với 35.286 tấn, Nhật Bản thứ 5 với 32.369 tấn, Nga thứ 6 với 28.369 tấn, Indonesia thứ 7 với 24.573 tấn, Hà Lan thứ 8 với 19.857 tấn, Algeria thứ 9 với 19.606 tấn và Bỉ thứ 10 với 17.749 tấn.
I-CIP tăng tháng thứ sáu liên tiếp
Giá chỉ số tổng hợp ICO (I-CIP) đạt trung bình 186,36 US cent/lb trong tháng 3, tăng 2,4% so với tháng 2 năm 2024. I-CIP có giá trị trung bình là 185,64 US cent/lb, dao động trong khoảng 181,39 đến 193,26 US cent /lb. I-CIP tháng 3 năm 2024 cao hơn I-CIP tháng 3 năm 2023 là 9,6%, với mức trung bình luân phiên trong 12 tháng là 168,82 US cent/lb. I-CIP tăng trưởng ổn định vào tháng 3 năm 2024, đạt mức cao nhất trong 18 tháng. Đáng chú ý, cà phê Robusta đã đạt mức cao nhất kể từ tháng 10/1994 khi đạt trung bình 169,43 US cent/lb.
Loại cà phê Colombian Mild tăng 0,4% trong khi loại cà phê Other Mild vẫn ổn định với mức thay đổi 0,0%, đạt lần lượt là 210,27 và 208,88 US cent/lb vào tháng 3 năm 2024. Loại cà phê Brazilian Natural có mức giảm 0,5%, đạt mức trung bình là 185,77 cent/lb. Tuy nhiên, cà phê Robusta tăng 8,2% lên 165,84 US cent/lb, mức cao nhất trong gần 30 năm qua. Thị trường kỳ hạn London của ICE cũng là động lực tăng trưởng mạnh mẽ, với mức tăng 4,3% lên 148,53 US cent/lb, trong khi thị trường kỳ hạn New York giảm 0,4% xuống 184,59 US cent/lb.
Chênh lệch giữa loại cà phê Colombian Mild và loại cà phê Other Mild tăng từ 0,75 lên 1,39 cent/lb. Chênh lệch giữa cà phê Colombian Mild – Brazilian Natural tăng 7,5% lên 24,51 US cent/lb, trong khi chênh lệch giữa cà phê Colombian Mild – Robusta giảm 21,1% từ tháng 2 đến tháng 3 năm 2024, trung bình đạt 44,43 US cent/lb. Trong khi đó, chênh lệch giữa cà phê Other Mild và Brazilian Natural tăng 4,9% đạt 23,12 cent/lb. Tuy nhiên, chênh lệch giữa cà phê Other Mild-Robusta và giữa cà phê Brazilian Natural-Robusta đều giảm 22,5% và 40,5%, trung bình lần lượt là 43,04 và 19,92 UScent/lb vào tháng 3 năm 2024.
Biến động trong ngày của I-CIP đã tăng 0,3 điểm phần trăm lên 7,1% trong khoảng thời gian từ tháng 2 đến tháng 3 năm 2024. Biến động của cà phê Colombian Mild và Other Mild giảm xuống lần lượt 7,5% và 7,7%.
Trong khi đó, biến động của cà phê Brazilian Natural giảm 0,7 điểm phần trăm xuống 8,1% từ tháng 2 đến tháng 3 năm 2024. Cà phê Robusta có mức biến động trung bình là 8,8% trong tháng 3. Biến động của thị trường kỳ hạn London cũng giảm 0,3 điểm phần trăm xuống 9,4%. Cuối cùng, mức độ biến động của thị trường kỳ hạn New York di chuyển cùng hướng với London, giảm 0,3 điểm phần trăm xuống 8,6%.
Tồn kho được chứng nhận ở London tăng 22,1% lên 0,49 triệu bao 60 kg. Tồn kho cà phê Arabica được chứng nhận đạt 0,63 triệu bao 60 kg, tăng 80,8% kể từ tháng 2 năm 2024.
Xuất khẩu của các nhóm cà phê – Cà phê nhân
Xuất khẩu cà phê nhân toàn cầu trong tháng 2 năm 2024 đạt 10,43 triệu bao, so với 9,52 triệu bao cùng kỳ năm trước, tăng 9,5%. Đây là mức xuất khẩu tháng 2 lớn nhất trong lịch sử, đánh bại kỷ lục trước đó được thiết lập vào năm 2019 là 10,34 triệu bao. Từ tháng 12 năm 2022 đến tháng 6 năm 2023, xuất khẩu cà phê nhân giảm liên tiếp, với tổng cộng 7 tháng giảm 8,2% xuống 66,92 triệu bao, mức thấp nhất được thấy trong cùng 7 tháng đó kể từ tháng 12 năm 2016 đến tháng 6 năm 2017. Tổng lũy kế xuất khẩu từ tháng 10/2023 đến hết tháng 2/2024 là 50,82 triệu bao, tăng 11,7% so với 45,5 triệu bao cùng kỳ vụ trước. Brazil là nguồn gốc chính thúc đẩy tăng trưởng, với xuất khẩu tăng 59,9% trong tháng 2 năm 2024 lên 3,38 triệu bao từ 2,11 triệu bao vào tháng 2 năm 2023.
Xuất khẩu cà phê nhân Robusta đã giảm 3,7% xuống 4,24 triệu bao trong tháng 2 năm 2024 từ mức 4,4 triệu bao vào tháng 2 năm 2023. Mặc dù vậy, tổng xuất khẩu lũy kế trong 5 tháng đầu niên vụ cà phê 2023/24 vẫn tăng 9,2%, ở mức 20,11 triệu bao, so với 18,41 triệu bao trong 5 tháng đầu niên vụ cà phê 2022/23. Nguyên nhân chính khiến lượng cà phê Robusta giảm trong tháng 2 là Việt Nam, xuất khẩu 2,54 triệu bao so với 3,17 triệu bao vào tháng 2 năm 2023, giảm 19,9%. Xuất khẩu cà phê Robusta của Indonesia cũng giảm 48,1%.
Xuất khẩu tất cả các loại cà phê từ Châu Á và Châu Đại Dương giảm 17,0% xuống 3,97 triệu bao trong tháng 2 năm 2024. Nguyên nhân chính của sự suy giảm hai con số là Việt Nam, quốc gia xuất khẩu giảm 19,7% xuống 2,73 triệu bao trong tháng 2 năm 2024 từ 3,4 triệu bao vào tháng 2 năm 2023. Nguyên nhân của sự sụt giảm có thể là do khối lượng xuất khẩu trong tháng 2 năm 2023 lớn hơn 1,04 triệu bao so với mức trung bình tháng 2 của sáu năm qua (2,36 triệu bao). Xét về mặt cân bằng, khối lượng xuất khẩu tháng 2 năm 2024 của Việt Nam được coi là ở mức tích cực, do giá nội địa tăng cao (giá cà phê nhân trong nước tăng lên mức trung bình 80.000 đồng/kg vào ngày 15 tháng 2 năm 2024, từ mức 61.000 đồng/kg vào giữa tháng 11 năm 2023) và giải phóng hàng dự trữ khi nông dân tận dụng lợi thế. Hơn nữa, Tết (Tết Nguyên Đán, rơi vào ngày 10 tháng 2 năm 2024) mang lại nguồn cung bổ sung cho thị trường khi nông dân tìm kiếm thêm thu nhập cho ngày quan trọng nhất đối với đất nước và người dân.
Tổng xuất khẩu cà phê hòa tan giảm 18,2% trong tháng 2 năm 2024 xuống 0,85 triệu bao từ 1,04 triệu bao vào tháng 2 năm 2023. Trong 5 tháng đầu niên vụ cà phê 2023/24, tổng cộng 5,05 triệu bao cà phê hòa tan đã được xuất khẩu, tăng 5,0% so với 4,81 triệu bao xuất khẩu cùng kỳ trong niên vụ cà phê trước. Tỷ trọng cà phê hòa tan trong tổng xuất khẩu tất cả các loại cà phê từ đầu niên vụ đến nay là 9,0% vào tháng 2 năm 2024, giảm so với mức 9,5% cùng kỳ vụ trước. Brazil là nước xuất khẩu cà phê hòa tan lớn nhất vào tháng 2 năm 2024, với mức xuất khẩu 0,26 triệu bao. Xuất khẩu hạt rang đã tăng 14,1% trong tháng 2 năm 2024 lên 56.425 bao, so với 49.439 bao vào tháng 2 năm 2023. Tổng cộng lũy kế cho niên vụ cà phê 2023/24 đến tháng 2 năm 2024 là 0,32 triệu bao, so với 0,3 triệu bao trong cùng kỳ vụ trước.