hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
Nhập email của bạn để lấy lại mật khẩu
Thẩm định giá doanh nghiệp (DN) hay định giá công ty là yêu cầu tất yếu khi công ty đó thực hiện các giao dịch liên quan đến giá trị DN, vay vốn. Đây không chỉ là thủ tục pháp lý cần thiết mà còn giúp các bên đảm bảo quyền lợi, tránh những thiệt hại về kinh tế.
Theo đó, thẩm định giá DN được xác lập trên cơ sở xác định giá trị của tổng thể hoặc một phần DN được quy đổi ra đơn vị tiền đồng theo giá trị thị trường, tại thời điểm định giá. Đơn vị định giá DN là những thẩm định viên/ công ty thẩm định giá đủ điều kiện pháp lý và năng lực thực hiện theo các Tiêu chuẩn thẩm định giá Việt Nam.
Kết thúc quá trình thẩm định, kết quả sẽ được ghi nhận bằng Chứng thư và báo cáo thẩm định giá do Công ty định giá phát hành. Đây là cơ sở pháp lý để chủ DN và các bên liên quan sử dụng cho các mục đích cụ thể.
Để có những cơ sở chính xác về thẩm định giá DN, Bộ Tài chính vừa ban hành Thông tư số 36/2024/TT-BTC ban hành Chuẩn mực thẩm định giá Việt Nam về thẩm định giá doanh nghiệp (DN), trong đó quy định rõ việc áp dụng các cách tiếp cận và phương pháp TĐG DN phải phù hợp với cơ sở giá trị DN. Thông tư số 36/2024/TT-BTC có hiệu lực thi hành từ ngày 01/7/2024.
Thông tư quy định, việc sử dụng báo cáo tài chính trong thẩm định giá DN căn cứ vào cách tiếp cận, phương pháp thẩm định giá DN được lựa chọn, thời điểm thẩm định giá và đặc điểm của DN cần thẩm định giá; đồng thời ưu tiên sử dụng báo cáo tài chính đã được kiểm toán, soát xét bởi đơn vị kiểm toán độc lập.
Trường hợp sử dụng số liệu từ báo cáo tài chính chưa được kiểm toán, soát xét, hoặc báo cáo tài chính được kiểm toán, soát xét nhưng có ý kiến không phải là ý kiến chấp nhận toàn phần thì phải nêu rõ hạn chế này trong phần hạn chế tại báo cáo thẩm định giá và chứng thư thẩm định giá hoặc thông báo kết quả thẩm định giá để tổ chức, cá nhân yêu cầu thẩm định giá và người sử dụng kết quả thẩm định giá được biết.
Bên cạnh các nội dung trên, Thông tư số 36/2024/TT-BTC nêu rõ: Việc áp dụng các cách tiếp cận và phương pháp thẩm định giá DN phải phù hợp với cơ sở giá trị DN và nhận định về trạng thái hoạt động của DN tại và sau thời điểm thẩm định giá.
Cụ thể, cách tiếp cận từ thị trường: Giá trị DN được xác định thông qua giá trị của DN so sánh với DN cần thẩm định giá tương đồng về các yếu tố: Quy mô; ngành nghề kinh doanh chính; rủi ro kinh doanh, rủi ro tài chính; các chỉ số tài chính hoặc giá giao dịch đã thành công của chính DN cần thẩm định giá. Phương pháp sử dụng trong cách tiếp cận từ thị trường để xác định giá trị DN là phương pháp tỷ số bình quân và phương pháp giá giao dịch.
Cách tiếp cận từ chi phí: Giá trị DN được xác định thông qua giá trị các tài sản của DN. Phương pháp sử dụng trong cách tiếp cận từ chi phí để xác định giá trị DN là phương pháp tài sản.
Cách tiếp cận từ thu nhập: Giá trị DN được xác định thông qua việc quy đổi dòng tiền thuần trong tương lai có thể dự báo được về thời điểm thẩm định giá. Phương pháp sử dụng trong cách tiếp cận từ thu nhập để xác định giá trị DN là phương pháp chiết khấu dòng tiền tự do của DN, phương pháp chiết khấu dòng cổ tức và phương pháp chiết khấu dòng tiền tự do vốn chủ sở hữu.
Khi xác định giá trị DN bằng cách tiếp cận từ thu nhập cần cộng giá trị của các tài sản phi hoạt động tại thời điểm thẩm định giá với giá trị chiết khấu dòng tiền có thể dự báo được của các tài sản hoạt động tại thời điểm thẩm định giá.
Trường hợp không dự báo được một cách đáng tin cậy dòng tiền của một số tài sản hoạt động thì có thể không dự báo dòng tiền của tài sản hoạt động này và xác định riêng giá trị của tài sản hoạt động này để cộng vào giá trị DN. Riêng phương pháp chiết khấu cổ tức thì không cộng thêm phần tài sản phi hoạt động là tiền mặt và tương đương tiền.