hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
Nhập email của bạn để lấy lại mật khẩu
“Tàu biển Việt Nam” - khái niệm này được biết rộng rãi ngay sau khi chúng ta tiếp quản Hải Phòng vào ngày 13/05/1955. Tàu biển mà người viết bài này đề cập ở đây là tàu thương mại (Merchant ship), có tổng dung tích (GT) từ 500 trở lên. Trong khi các loại tàu khác như tàu quân sự (Hải quân) tàu có mục đ&iac
Có thể tạm chia thành các thời kì như sau: Giai đoạn 1955 – 1975
Trong thời kì này, đội tàu biển của Việt Nam chủ yếu do các nước xã hội chủ nghĩa cho. Sau khi Hiệp định Paris được ký kết vào ngày 27/01/1973, Cục Hàng hải Việt Nam có vay vốn nước ngoài để mua tàu. Việc đặt tên do Cục đường biển đề xuất và được Bộ giao thông chấp nhận, với thủ tục tương đối đơn giản. Khi mua tàu, Cục Đường biển sẽ xin Bộ Giao thông cấp sẵn chứng thư quốc tịch, Thuyền trưởng mang theo khi nhận tàu, chứ không đợi ký xong giấy giao tàu (Protocol Of delivery).
Quy trình bàn giao tàu làm thủ tục như làm giấy khai sinh sẵn cho trẻ chứ không đợi sinh xong mới làm giấy khai sinh. Còn tại sao như vậy thì câu trả lời cũng đơn giản, lúc đó Việt Nam chưa có Luật Hàng hải và việc mua bán tàu lúc đó còn rất hạn chế.
Tên tàu thời kỳ này thường đơn giản nhưng thực sự có ý nghĩa, ví dụ:
• Đội tàu nhỏ 50T do Việt Nam đóng được đặt tên là VS ( Vỏ Sắt ) đánh số từ 1, 2…
• Tàu do Trung Quốc cho loại 50T được đặt tên là Tự Lực (TL) cũng đánh số từ 1 đến 50. Đội tàu Giải Phóng, Trung Quốc cho 40 chiếc nhưng trên đường đưa tàu về bị máy bắn đánh chìm 3 chiếc nên còn có 37 chiếc đánh số từ 1 đến 37.
Một sự kiến đáng nhờ là Thuyền trưởng tàu giải phóng mang số cuối cùng 37 Lê Đình Đỉnh bị thương khi đưa tàu về nước đã vĩnh biệt chúng ta về nơi vĩnh hằng năm 2024.
Những cái tên Tự Lực hay Giải Phóng không rõ do ai đề xuất hay là kết quả thống nhất giữa Việt Nam và Trung Quốc, nhưng theo tôi đây là những cái tên hay hoặc đội tàu dầu thì lấy tên Quyết Thắng cũng hay. Còn các tàu Liên Xô cho thì chúng ta đặt tên là Hòa Bình, Hữu Nghị, Thống Nhất, Đoàn Kết (Loại 800 DWT). Trong khi đó, các tàu Bulgaria cho thì đặt tên là Việt Bảo (Bảo là Bulgaria) tên Hán Việt: tàu Việt Nam – Nam Tư (Do Nam Tư cho). Hai tàu đổ bộ của chính quyền Tưởng Giới Thạch, Trung Quốc thu cho ta thì được hoán cải thành tàu chở dầu thì đặt tên là Hoàng Phố – Trạm Giang (Tên hai cảng biển của miền nam Trung Quốc). Các tàu lớn hơn do Liên Xô cho thì lấy tên các con sông đặt tên là Hồng Hà (4500 DWT) Sông Đà (4500 DWT), Sông Lò (1350 DWT), Sông Hàn, Cửu Long (tàu chở dầu 1000 DWT).
Sau khi ký hiệp định Paris, nhận thấy khả năng thống nhất khá rõ nên lấy tên các con sông đặt tiếp series 3 tàu: Sông Hương, Đồng Nai, Hải Phòng trọng tải gần 10.000 DWT. Sông Hương ở miền Trung, Đồng Nai con sông lớn ở miền nam còn Hải Phòng là tên thành phố Cảng. Hai tàu dầu trọng tải 20.840 DWT đặt tên Cửu Long 1 và Cửu Long 2. Tàu khách đặt tên Thống Nhất (Tên hay nhưng trùng tên với tàu hàng Thống Nhất 800 DWT). Rồi các series tàu: Sông Thương, Sông Đáy, Sông Chu (10.840 DWT) Trà Khúc, Bến Hải, Chương Dương (11.840 DWT), Nhật Lệ (6000 DWT) cũng lấy tên sông và địa danh lịch sử (Chương Dương). Tuy trọng tải không tỷ lệ với chiều dài các sông.
Bốn tàu đóng tại Sunderland (Anh) lần lượt mang tên sông Đuống, Lục Nam, Thái Bình, Tô Lịch đều là tên các con sông, tuy nhiên không theo một hệ thống tỉ lệ hoặc quy chuẩn cụ thể. Sông Lục Nam là một nhánh sông hợp lưu với sông Thương và sông Cầu ở Phả Lại để tạo thành sông Thái Bình. Sông Đuống là sông nối liền sông Hồng và sông Thái Bình. Sông Tô Lịch là con sông rất nhỏ ở Hà Nội do bị lấp vừa rồi mới khai thông lại. Chỉ có sông Luộc là chưa được đặt tên cho tàu nào. Chắc có lẽ là chữ “Luộc” không hay lắm vì vị trí cũng như sông Đuống mà thôi.
Cũng không biết tại sao cái tên sông như sông Chảy - một nhánh của sông Lô hay sông Mã lại chưa từng được dùng đặt tên cho tàu nào. Ngược lại sông Kinh Thầy một đoạn của sông Thái Bình chảy qua địa phận Hải Dương hoặc sông Thao đoạn sông Hồng qua địa phận Yên Bái và Phú Thọ thì lại được đặt tên cho tàu.
Tóm lại, thời kỳ trước năm 1975 phần lớn các tên sông được lấy đặt tên cho các tàu, tuy không theo một quy chuẩn tỷ lệ cụ thể nào và thường loại trừ những tên mà chủ tàu cho là không hay (như sông Luộc). Bộ và Cục không có hướng dẫn và định hướng cụ thể về hệ thống tên, nên mua đến đâu đặt tên tới đó. Song nhìn chung cách đặt tên vẫn hợp lý và các tên tàu mang tính chất lịch sử, địa lý các ngành khác cũng vậy. Ví dụ: Đội tàu đánh cá do Liên Xô giúp thì gọi là Đội tàu cá Việt Xô đánh số,… do Trung Quốc giúp thì gọi đội tàu cá Việt Trung cũng đánh số từ 1 …
Trong thời kì các địa phương được phép mua tàu, tên tàu do các chủ tàu lựa chọn cũng mang tính đặc trưng rõ nét. Ví dụ: Công ty vận tải biển Quảng Ninh đặt tên cho tàu là Quảng Ninh; Hà Nội đặt tên tàu là Hà Nội 1; Hải Phòng đặt tên tàu là Sông Cấm, Hoa Phượng Đỏ - Những hình ảnh gắn liền với thành phố. Tương ứng với tên công ty là Công ty Vận tải Biển Quảng Ninh, Công ty Vận Tải Biển Hải Phòng, gọi tắt là Quảng Ninh Ship, Hải Phòng Ship hay Hà Nội Ship.
Tên tàu sau thời kì đổi mới và hội nhập sau năm 1986 (đổi mới) và sau khi Mỹ dỡ bỏ cấm vận 1995 (Thời kỳ tổng thống Mỹ Bill Clinton) kinh tế có những bước phát triển mới, nhất là sau khi có luật đầu tư, các ngành kinh tế có những bước phát triển. Biển cũng vậy các công ty liên doanh cổ phần sau đó là tư nhân được phép thành lập, số lượng tàu nhiều hơn, do vậy tên công ty và tên tàu cũng đa dạng và những điểm cần phải bàn.
Trước tiên phải nói tới là tên tàu, của đội tàu “ Cờ Xanh Sao Vàng ” (tác giả đã đề cập trong một bài viết kỳ trước). Sau khi tiếp nhận từ Tổng công ty vận tải ngoại thương (Vietfracht) của Bộ Ngoại Thương và thành lập Công ty vận tải và thuê tàu (Vitranchart) treo cờ Việt Nam một số đổi sang tên tiếng Việt. Ví dụ: Tàu Golden Brige đổi tên thành Thu Bồn, KimSeng đổi thành Sông Gianh, Polan Star đổi thành Trà Lý, Perpetual Star đổi thành Hàm Luông. Có trường hợp tên được dịch nghĩa sang tiếng Việt như Victory 1 thành Thắng Lợi 1. Một số tàu vẫn giữ nguyên tên gốc như Aquamarine, Turquoise, Agate. Theo suy luận logic của tác giả, có thể lý do là không còn tên sông hay địa danh phù hợp để nên giữ nguyên tên gốc. Mặc dù các tàu đã đổi cờ sang cờ đỏ sao vàng và tất nhiên là đăng ký tại cảng Việt Nam (Nhưng vào thời điểm đó Bộ và Cục cũng không còn chú ý tên tàu nữa).
Như vậy, đã có tiền lệ cho việc các công ty vận tải biển nhà nước sở hữu tàu treo cờ Việt Nam, đăng ký tại cảng Việt Nam nhưng lại mang tên tiếng Anh (nước ngoài) và nghĩa dịch sang tiếng Việt có người hiểu, có người không hiểu. Ví dụ:
- Aquamarine mang ý nghĩa về biển cả, lấy cảm hứng từ màu xanh nước biển nhạt – biểu tượng của sự bình yên và hy vọng. Đồng thời đây cũng là một loại đá quý, tượng trưng cho may mắn và an toàn khi ra khởi.
- Agate mang ý nghĩa tượng trưng cho sức mạnh, sự bền bỉ và bảo vệ, lấy cảm hứng từ đá mã não – một loại đá quý có hoa văn độc đáo, thường được coi là biểu tượng của sự ổn định và may mắn trong hành trình.
Đây cũng là một tiền lệ dẫn đến việc sau này nhiều công ty Việt Nam đặt tên tàu bằng tiếng Anh, hoặc kết hợp nửa Anh nửa Việt, tạo nên những tên gọi mà đôi khi chỉ người đặt mới hiểu được ý nghĩa. Ví dụ: TC Messenger (Phần này sẽ được nói rõ hơn ở phần sau).
Việc đặt tên công ty cũng vậy. Ở miền Bắc, Công ty Vận tải biển Việt Nam (Vietnam Ocean Shipping Company - VOSCO) được thành lập ngày 01/07/1970, bên cạnh đó còn có Công ty Vận tải ven biển với tên viết tắt là Viet Co Ship. Ở miền Nam, Công ty Vận tải biển Miền Nam Việt Nam (SOVOSCO) được thành lập vào ngày 25/06/1975 sau ngày giải phòng 30/04/1975 gần 2 tháng. Sau đó, khi tiếp nhận đội tàu “Cờ Xanh Sao Vàng”, công ty này đổi tên thành Công ty Vận tải và Thuê tàu, theo Quyết định số 348/QĐ-TC ngày 31/07/1975 của Bộ trưởng bộ GTVT (như đã đề cập ở phần đội tàu “Cờ Xanh Sao Vàng”). Tên mới được đặt là Vitranchart.
Sau này, nhận thấy vị thế của công ty Viet Co Ship với tên gọi cũng như số lượng tàu ít ỏi, lãnh đạo công ty hoặc Cục Đường biển đề nghị cấp trên đổi tên thành công ty vận tải biển III (ý muốn hiểu là Vosco là số 1, Vitranchart là số 2, còn Viet Co Ship là số 3). Đến thời kỳ Giám đốc Đoàn Bá Thước (đã mất) thì xin đổi tên thành Công ty vận tải biển Quốc gia (Vina Ship - Viet Nam National Shipping) vì vận tải biển có yếu tố nước ngoài nên phải có tiếng Anh kèm hoặc dịch ra nên giới hàng hải, thuyền viên cứ gọi tắt là Vosco, Vinaship, Vitranchart. Rồi các địa phương là Hà Nội Ship, Hải Phòng Ship, Sài Gòn Ship, Quảng Ninh Ship cũng bắt đầu xuất hiện. Vì lúc đó có ít công ty và do kinh tế còn eo hẹp, đi từ Bắc vào Nam phải đi tàu khách “Thống nhất” do công ty Viet Co Ship quản lý vì máy bay ít, đắt, tàu hỏa thường lâu nên 3 cái tên của 3 công ty này đều được mọi người biết khá rộng rãi.
Và hiện tại thì sao ?
Nhờ sự đổi mới trong chính sách và sự phát triển mạnh mẽ của nền kinh tế, đội tàu biển Việt Nam hiện nay (Viễn dương cận hải và Nội địa) Việt Nam đã có gần 1.000 tàu vận tải với tổng số 14,3 triệu tấn trọng tải DWT tuổi trung bình 17,3 đứng thứ 27 trên thế giới đứng thứ 3 trên khối Asian (Số liệu Cục hàng hải Việt Nam).
Vì vậy, trong lĩnh vực kinh doanh vận tải biển có công ty không hề có chữ Vận tải biển lại kinh doanh và sở hữu tàu biển. Ví dụ: Công ty TNHH Mercury Lines có tới vài chiếc tàu biển chạy viễn dương (cả Container và loại tàu khác) còn đặt tên cho tàu thì vô cùng phong phú, tùy theo sở thích và ý định của ông chủ. Ví dụ: Ở Hải Phòng một chủ tàu có tổng số tàu trọng tải gần bằng Vosco lấy tên là Công ty HTK viết tắt từ tên của 3 người con. Còn các tàu thì đặt tên xem ra khá ổn, có tàu treo cờ Việt Nam có tàu treo cờ nước ngoài. Ví dụ: HTK Mighty, HTK Lavender, HTK Discovery,…
Tác giả xin dừng ở đây để chuyển sang đề cập đến vấn đề đặt tên công ty và bảng hiệu trên các phố. Một thực trạng cho thấy sự rất “phong phú” trong cách đặt tên, do không có cơ quan nào quản lý cả. Quay lại lịch sử, thời kỳ trước chiến tranh số lượng công ty và cửa hàng không nhiều song tên gọi nhẹ nhàng và mang tính văn hóa.
Còn hiện nay thì sao? Tên để loạn xì ngầu cả. Và nếu không quá đáng thì có thể nói không văn hóa chút nào, tất nhiên không phải tất cả đều như vậy. Ví dụ: tại khu vực Hồ Tây Hà Nội, một quán thịt cầy mang tên Anh Tú nhưng vì cạnh tranh thương hiệu nên sau đó xuất hiện hàng loạt quán lấy tên theo kiểu tùy tiện như: Anh Tú xin, Anh Tú Béo, Anh Tú chính hiệu,… Về pháp lý thì luật không cấm song nghe không ổn.
Tóm lại, nếu đi dọc các con phố ngày nay, chúng ta dễ dàng bắt gặp đủ loại tên gọi — từ tiếng Anh, tiếng Pháp, tiếng Việt cho đến tiếng Tây Ban Nha, hoặc những cái tên ghép ngẫu hứng, không theo bất kỳ chuẩn mực nào.
Giờ ta trở lại với việc đặt tên tàu biển, một lĩnh vực cũng không kém phần “thoải mái”. Ở bài Cờ tàu tác giả có nói là Mông Cổ một nước không có biển cũng cho thuê cờ. Tuy nhiên, với kinh nghiệm của tác giả có được sau hơn nửa thế kỷ làm việc trong ngành hàng hải xin góp ý với các chủ tàu một vài điểm như sau:
- Kinh doanh vận tải biển cần thương hiệu và thương hiệu không thể ngày một ngày hai mà có được do vậy khi đặt tên công ty cần có ý nghĩa và để khách hàng dễ nhận biết, chứ không cần đọc cả trang web của công ty mới biết.
- Tên tàu lại phải chú ý hơn, cần ngắn gọn. Để khi hai tàu gặp nhau trên biển, sỹ quan và thuyền viên trực ca phải thông báo cho nhau tên tàu của mình bằng cách đánh vần các chữ đầu của tên tàu. Nếu đặt tên tàu dài quá thì sẽ mất thời gian với sỹ quan thuyền viên không thạo tiếng Anh, điều này tiềm ẩn nguy cơ gây hiểu nhầm, thậm chí gây đâm va trên biển.
- Có một số nước như Nhật họ không phát âm được “ SÔNG ” hoặc như Việt Nam, đặc biệt người Nam bộ không đọc được đưa chữ V chính xác.
- Việc sử dụng số sau tên tàu cũng là một điểm đáng lưu ý – Nên dùng số La Mã hay số thường. Ví dụ: Hoàng Phương 01 hay Hoàng Phương I, chữ I số thường nếu sơn không cẩn thận sẽ thành T. Một ví dụ điển hình là hai tàu dầu Cửu Long 1 và Cửu Long 2 của VOSCO quản lý trước đây (Trọng tải 20.840 DWT). Khi mua hai tàu này, do đã có tàu dầu Cửu Long (Liên Xô cho) nên đặt là Cửu Long 1 và Cửu Long 2 nghe có vẻ đơn giản song giấy tờ thì lộn xộn, chỗ thì ghi Cửu Long 1, Cửu Long I, Cửu Long 2, Cửu long II, Cửu long 01 - Cửu Long 02 nên khi bán tàu rất rắc rối. Và rất nhiều sỹ quan boong đã lúng túng khi không biết đánh vần chữ La Mã I II. Khi hai tàu tránh vì không biết tên tàu của mình họ phải thông báo cho tàu.
- Tên tàu đặt theo chữ viết tắt của công ty và hệ lụy của nó. Ví dụ có những công ty tên viết tắt giống nhau chỉ khác phần địa danh phụ phía sau. Khi xảy ra tranh chấp pháp lý rất dễ gây nhầm lẫn cho chính quyền nước sở tại, ảnh hướng đến các công ty đó.
- Ở các nước phát triển (người ta thường chuyên môn hóa thế này) chủ tàu sở hữu (mua hoặc đóng mới con tàu). Thuê công ty quản lý tàu chứ không tự làm, đăng ký tên tàu đưa tên một công ty khác mà nước tàu đăng ký một công ty khác nhau để tránh bị bắt giữ.
- Đối với hình thức cho thuê định hạn (time charter), thời gian thuê có thể kéo dài từ 5 đến 10 năm, thậm chí là đến hết vòng đời khai thác của con tàu. Trong trường hợp này, người thuê định hạn có quyền để tên công ty của mình sơn vào mạn tàu con tàu kế tên công ty do mình thuê vận hành (K Line – NYK Line).
- Rất tiếc các chủ tàu của Việt nam (Nhất là các công ty nhà nước) chưa làm được điều này. Trong khi đó, các công ty tư nhân họ nhạy bén và đã làm và làm khá lâu như các công ty của ông Hiệp Gas.
Tóm lại, tác giải bài này với sự hiểu biết và kinh nghiệm bản thân muốn đưa ra một lời khuyên cho các chủ tàu và các nhà khai thác tàu.
Là khi đặt tên tàu cần lưu ý:
- Tránh trùng lặp với các tên cả người khác đang dùng
- Tên có ý nghĩa một chút, nếu Công ty dự kiến phát triển đội tàu với số lượng lớn (10, 20 tàu trở lên), nên chuẩn bị một danh sách tên dự kiến từ sớm, có logic và hệ thống. Thí dụ: 1 series tàu tên các thành phố, 1 series tàu tên các vị anh hùng, v.v…
- Không nên dài quá, sẽ khó cho các sỹ quan, thuyền viên dưới tàu.
- Không nên vừa sử dụng tên vừa tiếng Việt vừa tiếng Anh.
- Khi đánh số cần lưu ý chữ số 0 ở đầu, hay không có số 0 (01 hoặc 1).
- Không nên đánh số La Mã. Ví dụ: 0I, 0II ... dễ nhầm và 01, 02 và gây khó cho thuyền viên vì tiếng Anh không phải tiếng mẹ đẻ của thuyền viên Việt Nam nên gọi và nghe sẽ khó và hay nhầm.
- Cơ quan đăng kí tàu biển quốc gia cũng nên có ý kiến tư vấn giúp các chủ tàu khi đặt tên tàu.
Thí dụ: Nhà máy đóng tàu Bạch Đằng có tàu biển, hoặc ngân hàng cũng có tham gia kinh doanh tàu biển. Vì nhà máy hoặc ngân hàng không đăng ký một công ty con (phụ thuộc) để kinh doanh tàu biển mà chỉ ghi thêm vào ngành nghề là kinh doanh vận tải biển.
Vậy nếu không quảng cáo hay marketing hiệu quả, thì không ai biết tàu biển của nhà máy đóng tàu Bạch Đằng mà thuê tàu để vận tải hàng hoặc thuê định hạn hoặc thuê tàu trần.
Tác giả xin dừng ở đây, hy vọng qua bài này cùng với bài “Cờ tàu” trước đây có thể giúp ích phần nào cho các chủ tàu chút ít. Kiến thức trong việc đặt tên và đăng ký tàu.
BÀI VIẾT NHÂN KỈ NIỆM 60 NĂM NGÀY THÀNH LẬP CỤC ĐƯỜNG BIỂN VIỆT NAM (10/07/1965 – 10/07/2025) VÀ 70 NĂM NGÀY TIẾP QUẢN HẢI PHÒNG (13/05/1955 – 13/05/2025)