hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
Nhập email của bạn để lấy lại mật khẩu
Cơ cấu lại nền kinh tế được xác định là một trong những chủ trương lớn của Việt Nam trong những năm gần đây, nhằm đổi mới mô hình tăng trưởng và nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế.
Ngày 6/9, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) phối hợp với Chương trình Australia Hỗ trợ cải cách kinh tế Việt Nam (Aus4Reform) đã tổ chức Hội thảo “Cơ cấu lại ngành kinh tế theo hướng hình thành các cụm liên kết ngành và tăng cường sức chống chịu của nền kinh tế trong bối cảnh hội nhập: Nghiên cứu một số trường hợp tại Việt Nam” nhằm đóng góp ý kiến, góc nhìn về kết quả cơ cấu lại nền ngành kinh tế trong suốt những năm vừa qua, ưu tiên cải cách hướng tới phát triển bền vững trong quá trình hội nhập kinh tế quốc tế giai đoạn đến năm 2025.
Cơ cấu ngành nông nghiệp
Ths Nguyễn Văn Tùng, Phó Trưởng ban nghiên cứu kinh tế ngành và lĩnh vực – CIEM cho biết, trong giai đoạn 2016-2020, mặc dù phải đối diện với nhiều thách thức nặng nề hơn về dịch bệnh, biến đổi khí hậu, hội nhập quốc tế nhưng tốc độ tăng trưởng GDP đạt 2,71%/năm. Chất lượng tăng trưởng ngày càng được cải thiện, năng suất lao động bình quân giai đoạn đạt 6,8%/năm.
Thị trường tiêu thụ được mở rộng tránh phụ thuộc vào một số thị trường lớn. Nông sản Việt Nam hiện có mặt ở gần 200 quốc gia và vùng lãnh thổ. Việt Nam đứng đầu thế giới về xuất khẩu hồ tiêu, điều, cá tra; đứng thứ hai thế giới về cà phê; thứ ba thế giới về gạo tôm; thứ năm thế giới về xuất khẩu lâm sản… Năng lực cạnh tranh và vị thế được nâng cao, đáp ứng tốt hơn yêu cầu tiêu chuẩn hàng hoá ở những thị trường khó tính.
Về vấn đề cơ cấu lại ngành nông nghiệp theo hướng hình thành các cụm liên kết ngành và tăng cường sức chống chịu của ngành, Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương cho biết, hình thức liên kết sản xuất như hợp tác xã, kinh tế trang trại, liên kết sản xuất theo hình thức hộ gia đình phát triển mạnh.
Cụ thể, cả nước có 16.145 hợp tác xã nông nghiệp. Số hợp tác xã nông nghiệp hoạt động hiệu quả khoảng 65%. Số hợp tác xã ứng dụng công nghệ cao trong sản xuất chiếm 8%. Số hợp tác xã thực hiện liên kết gắn sản xuất với tiêu thụ sản phẩm nông nghiệp với doanh nghiệp chiếm 24,9% tổng số hợp tác xã.
Bên cạnh đó, cơ cấu lại chuỗi giá trị ngành hàng cũng được chú trọng thực hiện, xuất hiện nhiều mô hình liên kết trong sản xuất như chuỗi thịt, trứng của Masan, CP, Dabaco, Mavin, Vissan…; chuỗi sữa của TH True Milk, Vinamilk, Mộc Châu, Nutifood…; chuỗi mật ong của Công ty Cổ phần ong TW, Công ty ong Đắk Lắk…; chuỗi yến sào Yến Quân, Khánh Hòa, Sài Gòn…
Tuy nhiên, quá trình cơ cấu ngành nông nghiệp vẫn đang diễn ra chậm, kết quả chưa vững chắc, chưa đạt mục tiêu và yêu cầu.
Ths Nguyễn Văn Tùng cho biết, theo đúng nghĩa khái niệm về cụm liên kết ngành và nguyên tắc hoạt động của cụm liên kết ngành thì hiện nay Việt Nam chưa có một cụm liên kết ngành trong nông nghiệp nào hoàn chỉnh theo đúng bản chất như các cụm liên kết ngành trên thế giới đã được thừa nhận. Các cụm liên kết ngành đều hình thành tự phát, chưa có các quy định cũng như hướng dẫn cụ thể về phát triển cụm liên kết ngành trong nông nghiệp.
Mặc dù đã có sự hình thành vùng sản xuất tập trung theo địa lý song quy mô sản xuất trong nông nghiệp còn nhỏ lẻ, manh mún. Dẫn đến nguyên liệu cho hoạt động chế biến không đồng nhất về sản phẩm và chất lượng không đảm bảo.
Sản xuất quy mô lớn, theo chuỗi giá trị, gắn sản xuất nguyên liệu với bảo quản, chế biến và tiêu thị chưa trở thành chủ đạo và không khai thác được hiệu quả sản xuất trên cơ sở khai thác lợi thế so sánh về địa lý và quy mô sản xuất công nghiệp, chất lượng sản phẩm an toàn thực phẩm còn thấp. Tính chống chịu của nền sản xuất nông nghiệp thấp, dễ bị tác động bởi các yếu tố như biến đổi khí hậu, nước biển dâng, xâm nhập mặn, dịch bệnh.
Cơ cấu ngành công nghiệp
Ngành công nghiệp là ngành có tốc độ tăng trưởng cao nhất trong các ngành kinh tế và trở thành ngành xuất khẩu chủ lực với tỷ trọng xuất khẩu công nghiệp trong tổng kim ngạch xuất khẩu của cả nước khoảng 86,2% năm 2020.
Các ngành công nghiệp ưu tiên, công nghiệp mũi nhọn theo định hướng chiến lược đã trở thành các ngành công nghiệp lớn nhất, trong đó, ngành điện tử đã phát triển bứt phá, trở thành ngành công nghiệp lớn thứ hai về đóng góp vào GDP, ngành xuất khẩu lớn nhất của đất nước.
Báo cáo của CIEM cho thấy, hiện đã có các doanh nghiệp công nghiệp nội địa có năng lực cạnh tranh toàn cầu, có khả năng tự chủ về mặt công nghệ như: Tập đoàn Vingroup , Trường Hải, Thành công trong lĩnh vực lắp ráp ô tô; Tập đoàn Hoa Sen, Tập đoàn Hoà Phát, Công ty TNHH Hoà Bình Minh… trong lĩnh vực sắt thép, kim khí.
Đối với hình thành cụm liên kết ngành, quy hoạch không gian lãnh thổ được các ngành công nghiệp, cụm công nghiệp tập trung từng bước được thiết lập, qua đó hình thành chuỗi cung ứng của các ngành công nghiệp. Quy hoạch tổng thể phát triển ngành công nghiệp Việt Nam đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030, đã có hơn 30 quy hoạch phát triển các ngành công nghiệp cấp I và II được thiết lập mới và điều chỉnh, cùng với đó là quy hoạch tổng thể phát triển công nghiệp theo vùng lãnh thổ và quy hoạch phát triển công nghiệp trên 63 tỉnh/thành phố.
Phát triển công nghiệp tập trung tại Việt Nam được phát triển đa dạng với các hình thức như khu công nghiệp, khu chế xuất, khu kinh tế (cửa khẩu và ven biển), khu công nghiệp công nghệ cao, khu công nghệ thông tin tập trung, cụm công nghiệp và vào các địa phương, vùng kinh tế có lợi thế cạnh tranh với hệ thống 335 khu công nghiệp và 18 khu kinh tế ven biển, 26 khu kinh tế biên giới trên tất cả các vùng kinh tế và địa bàn kinh tế trọng điểm.
Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương cũng chỉ ra các hạn chế như: cơ cấu giá trị xuất khẩu của Việt Nam phân theo khu vực kinh tế không có sự thay đổi đáng kể trong giai đoạn 2016-2020, phụ thuộc rất lớn và khu vực doanh nghiệp FDI, chiếm tỷ trọng xấp xỉ 70%. Cụ thể, ngành điện tử có đến 95% xuất khẩu là của doanh nghiệp FDI (100% xuất khẩu điện thoại).
Thực tế, đóng góp của công nghiệp nội địa vào việc xuất khẩu chỉ chiếm khoảng 30%, trong đó tập trung chủ yếu vào các ngành công nghiệp dựa trên tài nguyên như dầu khí, khoáng sản, nông lâm thuỷ sản. Đây là các ngành công nghiệp không ổn định do chịu nhiều ảnh hưởng của biến động giá thế giới.
Bên cạnh đó, tỷ trọng nhập khẩu tư liệu sản xuất trong tổng giá trị hàng hoá nhập khẩu tăng từ 88,6% năm 2011 lên 91,5% vào năm 2020. Các ngành công nghiệp chủ đạo như dệt may, da giày, điện tử Việt Nam nhập khẩu hơn 90% nguyên liệu và cơ bản chỉ đóng vai trò là nơi gia công cho xuất khẩu trong chuỗi giá trị toàn cầu với tỷ suất lợi nhuận rất thấp, chỉ khoảng 5-10%.
Cơ cấu ngành dịch vụ
Tỷ trọng của các ngành dịch vụ trong nền kinh tế ngày càng tăng, mặc dù chịu tác động nặng nề từ đại dịch Covid-19 trong năm 2020 ngành dịch vụ vẫn chiến 41,6% trong cơ cấu nền kinh tế.
Cơ cấu lại khu vực dịch vụ được triển khai tích cực theo hướng nâng cao chất lượng dịch vụ, tập trung đầu tư cơ sở vật chất và phát triển đa dạng các sản phẩm. Một số ngành dịch vụ được hiện đại hoá, hình thành các sản phẩm dịch vụ hiện đại, chất lượng cao như dịch vụ y tế, bảo hiểm.
Bên cạnh đó, ứng dụng rộng rãi các hình thức dịch vụ hiện đại như thương mại và thanh toán điện tử, ngân hàng điện tử, giáo dục đào tạo trực tuyến, các hoạt hình vận tải mới… đã góp phần giúp ngành dịch vụ thích ứng tốt hơn và phù hợp hơn với bối cảnh phát triển của thế giới, đặc biệt là dịch Covid-19.
Nhiều mô hình liên kết các ngành dịch vụ được thúc đẩy hình thành phát triển, nhất là trong các ngành du lịch, theo hướng nâng cao chất lượng dịch vụ, tập trung đầu tư cơ sở vật chất và phát triển đa dạng các loại hình dịch vụ, đặc biệt là sản phẩm có năng lực cạnh tranh…
Cơ cấu của ngành dịch vụ còn thiên về các ngành dịch vụ truyền thống và tiêu dùng cuối cùng; các ngành dịch vụ mang tính chất “động lực” hay “xương sống” của nền kinh tế như tài chính - tín dụng, khoa học công nghệ, giáo dục - đào tạo, thông tin truyền thông đã có sự phát triển khá mạnh nhưng vẫn còn chiếm tỷ trọng nhỏ.
Hạn chế cơ bản của các doanh nghiệp trong du lịch là thiếu sự liên kết chặt chẽ như một hệ thống để đạt được sự thống nhất cao trong kinh doanh, từ đó nâng cao khả năng cạnh tranh với các đối thủ trong khu vực.
Cơ cấu lượng khách quốc tế cũng bộc lộ sự thiếu cân đối, còn phụ thuộc vào một số thị trường. Lượng khách chủ yếu đến từ Trung Quốc và Hàn Quốc vẫn chiếm số lượng lớn, làm tiềm ẩn nguy cơ có thể sụt giảm đột ngột khi có các yếu tố bất ổn, ảnh hưởng tới mục tiêu phát triển du lịch…
3 quan điểm cơ cấu lại ngành kinh tế
Thứ nhất: Quan điểm cơ cấu lại ngành kinh tế theo hướng hình thành cụm liên kết và nâng cao sức chống chịu, đảm bảo phát triển bền vững và an ninh quốc phòng.
Cần có cái nhìn dài hạn trong phát triển cụm liên kết ngành. Quan điểm này đặt ra yêu cầu cần phải tạo, duy trì và củng cố các cơ sở hạ tầng phục vụ phát triển cụm liên kết ngành dài hạn như yếu tố vốn nhân lực, cơ sở hạ tầng kinh tế - kỹ thuật.
Gắn phát triển cụm liên kết ngành với việc tác động lan tỏa tích cực đến các đối tượng ảnh hưởng. Đặc tăng trưởng trong mối quan hệ ràng buộc với những điều kiện về tài nguyên môi trường và các vấn đề xã hội, đặc biệt là an ninh quốc gia.
Thứ hai : Cơ cấu lại ngành kinh tế theo hướng phát triển toàn diện các cụm liên kết ngành và nâng cao khả năng chống chịu phải mang tính toàn diện để nâng cao năng lực cạnh tranh của ngành và có sự lựa chọn trên cơ sở phát huy tối đa lợi thế so sánh của từng vùng, tăng cường tham gia vào chuỗi giá trị toàn cầu.
Thứ ba: Quan điểm lấy giá trị gia tăng làm mục tiêu, đồng thời là thước đo cho cơ cấu lại nền kinh tế theo hướng hình thành và phát triển cụm liên kết ngành và nâng cao sức chống chịu.
Viện nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương cũng đề ra các giải pháp nhằm tăng cường sức chống chịu của ngành kinh tế trong quá trình cơ cấu nền kinh tế như: đa dạng hoá, đa phương hoá, tránh lệ thuộc vào một thị trường, một đối tác cụ thể trong hoạt động xuất nhập khẩu.
Đẩy mạnh khai thác và phát triển thị trường nội địa, nâng cao sức tiêu dùng trong nước và phát triển thương hiệu Việt Nam.
Đồng thời nâng cao năng lực tự chủ trong các lĩnh vực công nghệ số, công nghệ thông tin, điện tử viễn thông và an ninh mạng.