Thứ bảy, 04/11/2023 18:40 (GMT+7)

Ngành nông nghiệp Việt Nam thích ứng với quy định chống phá rừng của EU

Anh Thư

Chiều 4/11, tại Hà Nội, Bộ Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn (Bộ NNPTNT) đã tổ chức Hội nghị triển khai Kế hoạch hành động thích ứng với quy định chống phá rừng của EU (EUDR) do ông Lê Minh Hoan - Bộ trưởng Bộ NNPTNT chủ trì. Cùng dự có đại diện các Bộ, ban, ngành, lãnh đạo UBND các tỉnh sản xuất cà phê, gỗ và cao su lớn, các tổ chức quốc tế.

Toàn cảnh hội nghị. Ảnh: Anh Thư
Toàn cảnh hội nghị. Ảnh: Anh Thư


Quy định của EUDR cấm nhập khẩu sản phẩm được sản xuất trên đất có nguồn gốc từ phá rừng và gây suy thoái rừng sau ngày 31/12/2020 trong 7 nhóm hàng nông sản, bao gồm: chăn nuôi gia súc, ca cao, cà phê, dầu cọ, cao su, đậu nành, gỗ và sản phẩm từ gỗ (gọi tắt là “7 nhóm hàng”). Trong đó, cà phê, cao su, gỗ và sản phẩm từ gỗ là các ngành hàng chủ lực của Việt Nam chịu ảnh hưởng lớn bởi quy định này, đặc biệt là đối với ngành hàng cà phê. 


Hiện, châu Âu là thị trường cà phê lớn nhất của Việt Nam, với lượng xuất khẩu trực tiếp chiếm từ 40-50% và gián tiếp từ 20-30% trong tổng kim ngạch xuất khẩu sản phẩm này, đồng thời mang lại thu nhập chính cho hơn 600.000 nông hộ quy mô nhỏ trên cả nước, có tác động lớn đối với sự phát triển kinh tế - xã hội – môi trường của các địa phương sản xuất, đặc biệt là tại 5 tỉnh Tây Nguyên.

 

Bộ trưởng Bộ NNPTNT Lê Minh Hoan. Ảnh: Anh Thư
Bộ trưởng Bộ NNPTNT Lê Minh Hoan phát biểu tại Hội nghị. Ảnh: Anh Thư


Tuy nhiên, đứng trước EUDR, ngành cà phê Việt Nam đang gặp phải rất nhiều các vấn đề, thách thức không nhỏ để đáp ứng được quy định này. Để hỗ trợ ngành cà phê Việt Nam đáp ứng tốt các yêu cầu của EUDR, Bộ NNPTNT đã có nhiều cuộc trao đổi chuyên sâu với các đơn vị kĩ thuật và cơ quan lãnh đạo của Ủy ban Châu Âu, đồng thời, tham vấn với các đơn vị, tổ chức quốc tế và các cơ quan chuyên môn để xây dựng Khung kế hoạch hành động thích ứng với EUDR. 


Ngoài ra, khó khăn lớn nhất mà các chuỗi cung ứng nông sản tại Việt Nam đang gặp phải trong thực hiện quy định mới của EU là việc cơ sở dữ liệu định vị diện tích rừng; truy xuất nguồn gốc; triển khai hệ thống giám sát chống phá rừng. 


Theo đó, Vụ Hợp tác Quốc tế đã phối hợp cùng Cục Trồng trọt, Cục Kiểm Lâm, Cục Lâm Nghiệp hợp tác cùng tổ chức IDH, Liên minh Châu Âu và các đơn vị liên quan xây dựng Giải pháp kĩ thuật để hỗ trợ ngành cà phê đáp ứng với EUDR ở cấp Trung ương và địa phương và kế hoạch triển khai hực hiện. Giải pháp kĩ thuật được đề xuất thực hiện theo hình thức  hợp tác công tư giữa cơ quan quản lý Nhà nước, các công ty và tổ chức quốc tế như IDH cụ thể về hai hợp phần giải pháp với những đề xuất kế hoạch triển khai cụ thể và sẽ được thực hiện song song nhằm đảm bảo thời gian và hiệu quả. 


Trong đó, có giải pháp hỗ trợ đáp ứng với EUDR bao gồm: Xây dựng hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu rừng và vùng sản xuất; Phân vùng sản xuất theo các cấp độ nguy cơ gây mất rừng/suy thoái rừng; Truy xuất nguồn gốc theo quy định của EUDR. Giải pháp giảm thiểu rủi ro mất rừng/suy thoái rừng, gồm các nội dung: Xác định, xử lý các diện tích sản xuất cà phê trên đất mất rừng/suy thoái rừng sau ngày 31/12/2020; Tăng cường giám sát, bảo vệ, tái sinh rừng; Hỗ trợ mô hình sinh kế nông hộ quy mô nhỏ, đặc biệt ở các khu vực có nguy cơ cao/trung bình.


Tại Hội nghị, Bộ trưởng Lê Minh Hoan nêu lên các giải pháp kĩ thuật hỗ trợ ngành cà phê đáp ứng với EUDR dự kiến được triển khai ở hai cấp độ: Cấp độ Thí điểm tại 6 huyện, gồm huyện: Krong Năng, Cu Mgar, Ea H’leo (Đắk Lắk); Krong Nô (Đắk Nông); Di Linh (Lâm Đồng); Ia Grai (Gia Lai). Cấp độ Nhân rộng: các tỉnh, huyện có sản xuất cà phê trên cả nước. Tiếp đó là xây dựng Hệ thống thông tin, CSDL rừng và vùng sản xuất; Phân vùng sản xuất theo các cấp độ nguy cơ gây mất rừng/suy thoái rừng; Truy xuất nguồn gốc. 


Bà Trần Quỳnh Chi - Giám đốc Vùng Cảnh quan châu Á, Tổ chức IDH nhấn mạnh, mục tiêu đến năm 2024, phấn đấu mở rộng 16 huyện ở khu vực Tây Nguyên và toàn tỉnh Sơn La chiếm khoảng 70% tổng diện tích cà phê ở Việt Nam và đạt số hóa toàn bộ bản đồ địa chính ở các vùng sản xuất theo đúng yêu cầu của EUDR. Dự kiến đến năm 2025, sẽ có được toàn bộ số liệu của vùng sản xuất cà phê. 

 

Bà Trần Quỳnh Chi- Giám đốc Vùng Cảnh quan châu Á, Tổ chức IDH. Ảnh: Anh Thư
Bà Trần Quỳnh Chi- Giám đốc Vùng Cảnh quan châu Á, Tổ chức IDH phát biểu tại Hội nghị. Ảnh: Anh Thư

 

Ông Trần Quang Bảo - Cục trưởng Cục Lâm nghiệp cho rằng, một số quy định rừng ở nước ta chặt chẽ và phù hợp với điều kiện địa lý theo từng vùng miền. Ngoài dữ liệu về rừng, thì các dữ liệu về cà phê, cao su... cùng truy xuất để đối sánh với nền cơ sở dữ liệu quốc gia. Cơ sở dữ liệu hoàn toàn minh bạch, độc lập, hợp pháp. 


Hội nghị cũng đặc biệt nhấn mạnh tầm quan trọng của các giải pháp giảm thiểu rủi ro mất rừng, chứng minh sản phẩm cà phê, cao su của Việt Nam 100% đáp ứng yêu cầu không gây mất rừng, suy thoái rừng. Qua đó, đối thoại với EU để chuyển Việt Nam sang mức rủi ro thấp, từ đó giảm mức độ yêu cầu truy xuất nguồn gốc (cho phép phân hàng theo từng huyện); Đạt được tác động bảo vệ và tái sinh rừng, đảm bảo an sinh xã hội.
 

Ông Trần Quang Bảo - Cục trưởng Cục Lâm nghiệp. Ảnh: Anh Thư
Ông Trần Quang Bảo - Cục trưởng Cục Lâm nghiệp phát biểu tại Hội nghị. Ảnh: Anh Thư


Bên cạnh đó, Cục Trồng trọt, Cục Lâm nghiệp phối hợp với Cục Kiểm lâm, Tổ chức IDH, Công ty Simexco, UBND các tỉnh chỉ đạo các huyện thị sản xuất cà phê thực hiện kế hoạch chi tiết theo các mốc thời gian đã định trước. Từ đó, đề ra các giải pháp cụ thể nhằm giảm thiểu rủi ro mất rừng/suy thoái rừng như: Xác định các diện tích sản xuất cà phê trên đất mất rừng/suy thoái rừng sau ngày 31/12/2020; Tăng cường giám sát, bảo vệ rừng, phục hồi rừng; Hỗ trợ mô hình sinh kế nông hộ quy mô nhỏ, đặc biệt ở các khu vực có nguy cơ cao/trung bình.


Một số kiến nghị khác tại Hội nghị cũng được các đại diện lãnh đạo các Bộ, ban, ngành,địa phương, doanh nghiệp được nêu ra như: EU nên chia sẻ thông tin, các khái niệm, quy định cụ thể về mất rừng, lộ trình áp dụng từ sớm cũng như cần thống nhất về các phương pháp triển khai, thiết kế kỹ thuật với cơ quan quản lý và các ngành sản xuất tại Việt Nam trước khi nhân rộng.