hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
Nhập email của bạn để lấy lại mật khẩu
Hợp tác giáo dục đại học giữa các cơ sở đào tạo Việt Nam và Trung Quốc đang bước vào một giai đoạn định vị lại vai trò, khi nhu cầu liên kết nguồn nhân lực chất lượng cao, kết nối khoa học – công nghệ và mở rộng không gian phát triển tri thức trở thành đòi hỏi cấp thiết của tiến trình hội nhập.
Nhìn từ hoạt động của các trường đại học trong lưu vực sông Hồng, đặc biệt giai đoạn 2024–2025, có thể thấy bức tranh hợp tác đang chuyển dịch từ giao lưu học thuật cơ bản sang mô hình liên kết gắn với mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội.
Từ đào tạo ngôn ngữ đến phát triển các chương trình liên ngành
GS.TS Lại Quốc Khánh, Phó Hiệu trưởng Trường Đại học Khoa học Xã hội và Nhân văn (VNU-USSH), nhận định rằng hợp tác giữa các trường thành viên đã vượt khỏi phạm vi đào tạo ngôn ngữ đơn thuần để hướng tới các chương trình liên ngành, đóng góp luận cứ khoa học cho hoạch định chính sách. Đây là sự dịch chuyển mang tính nền tảng, khi các cơ sở đào tạo không chỉ cung cấp kiến thức mà còn đảm nhiệm vai trò “nhà cung cấp tri thức” cho các lĩnh vực quản trị, kinh tế và văn hóa.
Diễn đàn Hiệu trưởng các trường đại học lưu vực sông Hồng lần thứ 6 vì thế không còn là một sự kiện học thuật theo chu kỳ. Sự tham gia của 23 cơ sở giáo dục đã đưa diễn đàn trở thành một điểm kết nối chiến lược, nơi các thỏa thuận hợp tác có tính bền vững được triển khai ở cấp trường và hướng đến tác động vĩ mô.
Một minh chứng rõ rệt là chương trình đào tạo tiếng Việt cho sinh viên tỉnh Vân Nam tại VNU-USSH. Dù bối cảnh hậu đại dịch đặt ra nhiều thách thức, số lượng sinh viên vẫn tăng ổn định từ 131 lên 140 người trong hai năm học gần đây. Học viện Hồng Hà tiếp tục là đối tác lớn nhất, khi tăng số lượng sinh viên từ 60 lên 90; đồng thời sự xuất hiện của Đại học Vân Nam cho thấy mức độ lan tỏa của chương trình. Đây là mô hình thể hiện khả năng thích ứng của hợp tác giáo dục trong điều kiện biến động, vừa đáp ứng nhu cầu thị trường nhân lực vừa tạo ra nền tảng giao lưu bền chặt.
Song song với đào tạo đại học, các hoạt động nghiên cứu được mở rộng. Việc tiếp nhận nghiên cứu sinh, học viên cao học và thực tập sinh nghiên cứu đã hình thành mạng lưới học thuật Việt – Trung ngày càng sâu rộng, trong đó Hà Nội nổi lên như một điểm trung chuyển tri thức.
Ở chiều ngược lại, các trường đại học Trung Quốc cũng thay đổi mạnh mô hình đào tạo. Đại học Vân Nam triển khai chương trình thạc sĩ tích hợp “Nhất thể, Lưỡng dực, Tam dung hợp”, kết hợp giữa nghiên cứu hàn lâm, kỹ năng sư phạm và ứng dụng nghề nghiệp, với 42 thạc sĩ vượt qua kỳ sát hạch quốc tế và tỷ lệ việc làm trên 95%. Đại học Sư phạm Vân Nam trở thành trường đầu tiên trong khu vực đào tạo Tiến sĩ Giáo dục Hán ngữ Quốc tế, bổ sung nguồn lực chuyên môn cho đội ngũ giảng viên tiếng Trung mà Việt Nam đang có nhu cầu.
Bên cạnh đào tạo, các trường đại học trong khu vực còn đóng vai trò ngày càng rõ nét như những trung tâm tư vấn chính sách. Học viện Côn Minh, thông qua Viện Nghiên cứu Thương mại Tự do, đã công bố 43 báo cáo tư vấn cho đến năm 2025, chủ yếu tập trung vào các đề xuất kết nối hạ tầng và thương mại điện tử. Các chương trình như “Tiếng Việt + Thương mại điện tử” hay đề xuất hỗ trợ sinh viên Việt Nam khởi nghiệp tại Khu Thương mại Tự do Vân Nam cho thấy cách tiếp cận mới mẻ, kết hợp giáo dục – kinh tế – đổi mới sáng tạo theo xu hướng liên ngành.
Với cách tiếp cận này, hợp tác đại học không chỉ mang tính học thuật mà trở thành công cụ thúc đẩy đầu tư, thương mại và hội nhập kinh tế vùng biên giới. Điều này đặc biệt quan trọng trong bối cảnh chiến lược phát triển kinh tế biên mậu và nhu cầu xây dựng mô hình giao thương mới giữa hai nước.
Thúc đẩy khoa học – kỹ thuật là động lực cho các ngành công nghiệp
Nếu khối ngành Khoa học Xã hội và Nhân văn đóng vai trò nền tảng văn hóa, thì lĩnh vực khoa học tự nhiên, kỹ thuật và công nghệ lại cung cấp động lực trực tiếp cho quá trình công nghiệp hóa. Các trường thành viên trong diễn đàn đã khai thác thế mạnh của mình để mở rộng hợp tác theo hướng ứng dụng.
Sự hợp tác giữa Đại học Lâm nghiệp Tây Nam và Đại học Lâm nghiệp Việt Nam là một trường hợp tiêu biểu. Việc khánh thành “Trung tâm Hợp tác Nghiên cứu Quốc tế Vật liệu Sinh khối Quốc gia – Trung tâm Việt Nam” năm 2025 đánh dấu mô hình liên kết gắn kết nghiên cứu – chuyển giao – đào tạo. Những chương trình tu nghiệp ngắn hạn, các đoàn chuyên gia hỗ trợ kỹ thuật trồng Mắc-ca, khảo sát dược liệu và phát triển mô hình canh tác bền vững đã cho thấy tính thực tiễn cao. Đây là dạng hợp tác có tác động trực tiếp tới nông dân và ngành lâm nghiệp tại các địa phương biên giới, nơi nhu cầu công nghệ hóa và chuẩn hóa quy trình sản xuất đang rất lớn.
Trong lĩnh vực kỹ thuật – công nghiệp, Đại học Bách khoa Côn Minh và Học viện Văn Sơn đóng vai trò dẫn dắt. Đại học Bách khoa Côn Minh triển khai chiến lược “Đại Hữu Sắc” (luyện kim màu) và “Đại Sinh Vật” (y sinh), thu hút sinh viên Việt Nam bằng các chương trình học bổng trong lĩnh vực vật liệu mới, AI và công nghệ sinh học. Học viện Văn Sơn lại tập trung vào ngành nhôm và dược liệu Tam Thất – những ngành có lợi thế địa phương và gắn với nhu cầu hợp tác khai khoáng, chế biến sâu dược liệu tại khu vực Hà Giang – Văn Sơn. Việc đào tạo kỹ sư thực hành cho các nhà máy nhôm thông minh hay mô hình chế biến dược liệu đã tạo ra nguồn nhân lực có năng lực ứng dụng ngay tại khu vực biên giới.
Nhìn lại 11 năm phát triển từ 12 trường ban đầu năm 2014 đến một mạng lưới quy mô lớn như hiện nay, Diễn đàn Hiệu trưởng đã chứng minh vai trò hạt nhân trong liên kết giáo dục hai nước. GS.TS Hoàng Anh Tuấn, Hiệu trưởng VNU-USSH, nhấn mạnh rằng xu hướng toàn cầu hóa giáo dục đòi hỏi các trường phải chủ động mở rộng hợp tác đa ngành, giao lưu học thuật và tổ chức các sự kiện khoa học thường xuyên, qua đó hình thành hệ sinh thái mang lại giá trị gia tăng cho giảng viên và sinh viên.