Thứ sáu, 21/08/2026 14:11 (GMT+7)

Mua sắm công mở đường cho năng lực sản xuất

Kiều Công Thược (VNFUND)

Thủ tướng Lê Minh Hưng nhấn mạnh yêu cầu kiểm tra, giám sát chặt chẽ việc sử dụng ngân sách. Với mua sắm công, hiệu quả cần được đánh giá qua giá trị Nhà nước nhận được, chi phí trong suốt vòng đời sản phẩm và năng lực sản xuất, công nghệ được hình thành sau mỗi hợp đồng, thay vì chỉ dựa vào giá trúng thầu.

Đây cũng là cơ sở để chuyển cách tiếp cận từ lựa chọn nhà thầu và mua hàng sang sử dụng sức mua công để tạo giá trị và nâng năng lực sản xuất Việt Nam vươn tầm quốc tế trong kỷ nguyên phát triển mới.

Từ “mua hàng” sang “mua năng lực tạo ra giá trị”

Dự thảo Luật Đấu thầu sửa đổi đang mở ra dư địa mới cho việc sử dụng mua sắm công để thúc đẩy sản xuất trong nước. Theo thông tin trong dự thảo, cơ chế ưu đãi hiện hành chủ yếu được áp dụng ở bước đánh giá hồ sơ dự thầu, chưa tạo cơ sở đủ mạnh để ưu tiên hoặc dành riêng việc mua sắm đối với một số nhóm hàng hóa, dịch vụ Nhà nước cần khuyến khích, trong đó có hàng hóa do doanh nghiệp trong nước sản xuất, sản phẩm công nghệ cao, công nghệ chiến lược, sản phẩm xanh và sản phẩm đổi mới sáng tạo.

Điểm cốt lõi của chính sách nằm ở việc Nhà nước tạo ra tín hiệu thị trường từ đâu và ở mức độ nào. Nếu ưu đãi chỉ được tính khi đánh giá hồ sơ dự thầu, tác động chủ yếu dừng ở việc thay đổi kết quả của từng gói thầu, chưa đủ tạo kỳ vọng về nhu cầu dài hạn để doanh nghiệp bỏ vốn đầu tư. Khi định hướng mua sắm được xác lập ngay từ khâu xác định nhu cầu, tiêu chuẩn kỹ thuật, điều kiện năng lực và phương thức lựa chọn, doanh nghiệp có cơ sở nhìn thấy quy mô và yêu cầu của thị trường trước khi quyết định đầu tư. Khi đó, một gói thầu cụ thể có thể trở thành tín hiệu cho cả chuỗi đầu tư phía sau: từ nhà máy, công nghệ, R&D đến hệ thống nhà cung ứng.

Tuy nhiên, thúc đẩy sản xuất trong nước không đồng nghĩa với thu hẹp cạnh tranh. Vấn đề cần giải quyết là xác định đúng năng lực tạo ra giá trị. Với những gói mua sắm thiết bị, công nghệ, hạ tầng số, cơ khí, điện - điện tử, thiết bị môi trường, y tế hoặc các hệ thống phải vận hành trong thời gian dài, giá trị của sản phẩm không dừng ở hàng hóa được bàn giao. Năng lực thiết kế, sản xuất, tích hợp, kiểm thử, hiệu chỉnh, bảo hành, cung ứng phụ tùng, cập nhật công nghệ và xử lý sự cố đều liên quan trực tiếp đến hiệu quả khoản chi.

Nếu hồ sơ mời thầu chỉ tập trung vào tư cách thương mại, hợp đồng tương tự và khả năng giao hàng, doanh nghiệp không có cơ sở sản xuất, công nghệ hoặc đội ngũ kỹ thuật vẫn có thể đứng giữa chuỗi cung ứng. Hình thức giao dịch có thể hoàn tất, nhưng ngân sách chưa chắc tạo thêm năng lực sản xuất; trách nhiệm về chất lượng và dịch vụ sau bán hàng cũng có nguy cơ bị phân tán.

Do đó, cần phân biệt rõ “nhà sản xuất, nhà tích hợp và nhà thương mại”. Nhà sản xuất trực tiếp sở hữu cơ sở sản xuất, dây chuyền, nhân sự và hệ thống chất lượng. Nhà tích hợp có thể không sản xuất toàn bộ linh kiện nhưng tạo giá trị qua thiết kế hệ thống, phần mềm, cấu hình, tích hợp, kiểm thử, hiệu chỉnh, triển khai hoặc vận hành. Trong khi đó, nhà thương mại thuần túy chủ yếu mua và bán lại sản phẩm.

Cách phân loại này cũng giúp tránh một cực đoan khác là loại doanh nghiệp chỉ vì có chức năng thương mại. Một doanh nghiệp thương mại có năng lực kỹ thuật, tích hợp, hậu mãi, kho phụ tùng và trách nhiệm vòng đời vẫn có thể tạo ra giá trị. Ngược lại, doanh nghiệp tự nhận là nhà sản xuất nhưng năng lực sản xuất chỉ mang tính hình thức cũng không nên mặc nhiên được hưởng lợi thế.

Với hàng hóa thông dụng, tiêu chuẩn hóa và có sẵn trên thị trường, cạnh tranh thương mại rộng vẫn là lựa chọn phù hợp. Với các gói thầu chiến lược, chuyên dụng, có yêu cầu công nghệ, tích hợp hệ thống hoặc mục tiêu thúc đẩy sản xuất trong nước, tiêu chí về năng lực sản xuất thực và trách nhiệm của nhà sản xuất cần được xem xét phù hợp với tính chất từng gói thầu.

Từ hướng tiếp cận này, có thể nghiên cứu sáu nhóm điều kiện, gồm: (1) tư cách sản xuất hoặc liên danh thực chất; (2) cơ sở sản xuất và khả năng đáp ứng đơn hàng; (3) nhân sự kỹ thuật, R&D và hệ thống chất lượng; (4) truy xuất nguồn gốc và cấu trúc chuỗi cung ứng; (5) minh bạch cấu trúc giá và trách nhiệm vòng đời; (6) cùng năng lực đổi mới, làm chủ công nghệ và phát triển nhà cung ứng trong nước.

Đánh giá hiệu quả từ giá mua đến cả vòng đời

Một thay đổi cần thiết là chuyển cách đánh giá từ giá mua ban đầu sang hiệu quả kinh tế trong suốt vòng đời sản phẩm. Với thiết bị và hàng hóa sử dụng dài hạn, giá trúng thầu thấp chưa đồng nghĩa với chi phí thấp. Mức tiêu hao năng lượng, chi phí bảo trì, phụ tùng, nâng cấp và thời gian dừng vận hành đều có thể làm tổng chi phí sử dụng tăng đáng kể.

Vì vậy, với những gói thầu phù hợp, có thể tính tổng chi phí sở hữu (TCO), gồm giá mua, vận hành, năng lượng, bảo trì, phụ tùng, nâng cấp, chi phí ngừng hoạt động, khả năng thay thế trong nước và rủi ro chuỗi cung ứng. Cách tính này đưa hiệu quả sử dụng vào cùng bài toán với giá mua, thay vì đánh giá khoản đầu tư chủ yếu tại thời điểm ký hợp đồng.

Cùng với đó, việc giảm tầng trung gian cần dựa trên nguyên tắc minh bạch và đánh giá đúng giá trị của từng khâu trong chuỗi cung ứng. Nhà phân phối vẫn có thể tạo giá trị qua logistics, tồn kho, tài chính thương mại, dịch vụ địa phương, bảo hành hoặc tích hợp. Minh bạch chuỗi cung ứng và cấu trúc giá, kiểm soát nhà thầu phụ, xác minh năng lực sản xuất, yêu cầu nhà sản xuất tham gia trực tiếp hoặc liên danh ở những gói thầu phù hợp, cùng với hậu kiểm hợp đồng sẽ giúp cơ quan mua sắm đánh giá sát hơn hiệu quả của từng phương án. Khi đó, quản lý mua sắm công được chuyển từ kiểm tra hồ sơ sang theo dõi giá trị thực được tạo ra trong toàn bộ quá trình thực hiện hợp đồng.

“Nhà nước không mua tư cách đại lý; Nhà nước mua năng lực tạo ra sản phẩm, chất lượng, dịch vụ vòng đời và trách nhiệm của chuỗi cung ứng.”

Ths. Kiều Công Thược

Mua sắm công chỉ tạo tác động rõ đến sản xuất trong nước khi doanh nghiệp nhìn thấy nhu cầu đủ cụ thể để quyết định đầu tư. Muốn doanh nghiệp bỏ vốn cho nhà máy, công nghệ và R&D, Nhà nước cần xác định rõ nhu cầu, yêu cầu kỹ thuật và định hướng mua sắm. Chính sách đấu thầu vì vậy cần tính đến tác động của từng gói thầu đối với năng lực sản xuất, thay vì chỉ tập trung vào việc lựa chọn nhà thầu cho một hợp đồng.

Dự thảo Luật Đấu thầu sửa đổi có thể mở hướng nghiên cứu nhóm gói thầu phục vụ phát triển sản xuất trong nước, đổi mới sáng tạo hoặc công nghệ chiến lược. Với nhóm này, cơ quan mua sắm có thể xây dựng tiêu chí về năng lực sản xuất, R&D, chất lượng, truy xuất nguồn gốc, bảo hành, phát triển nhà cung ứng và chi phí trong suốt vòng đời. Nhà nước cần chuẩn hóa các tiêu chí theo từng ngành hàng để doanh nghiệp biết rõ yêu cầu cạnh tranh và chủ đầu tư có căn cứ đánh giá thống nhất.

Muốn đánh giá đúng năng lực, cơ quan mua sắm cũng cần kiểm chứng thông tin về nhà máy, công suất, tiêu chuẩn, sản phẩm, năng lực R&D và lịch sử thực hiện hợp đồng. Cơ sở dữ liệu được chuẩn hóa sẽ giúp đối chiếu hồ sơ với năng lực thực tế, qua đó hạn chế tình trạng doanh nghiệp kê khai năng lực vượt quá khả năng đáp ứng.

Chủ đầu tư và tổ chuyên gia phải thiết kế tiêu chí phù hợp với mục tiêu của từng gói thầu. Tiêu chí quá cao có thể thu hẹp cạnh tranh; tiêu chí quá thấp lại tạo khoảng trống cho nhà thầu thiếu năng lực thực hiện hợp đồng thông qua các tầng trung gian. Chỉ thị số 12/CT-TTg ngày 3/4/2026 đã yêu cầu khắc phục tiêu chí hồ sơ mời thầu không phù hợp, kiểm soát nhà thầu phụ, chống chuyển nhượng thầu, nâng khống giá và các hành vi gây thất thoát, lãng phí ngân sách. Những yêu cầu này cần được gắn với kết quả thực hiện hợp đồng, thay vì dừng ở khâu lựa chọn nhà thầu.

Khi đó, cơ quan quản lý có thể đánh giá một gói thầu từ lúc xác định nhu cầu đến khi tài sản được đưa vào sử dụng. Một phương án mua sắm phải đáp ứng yêu cầu về chất lượng, chi phí, khả năng vận hành và trách nhiệm của các bên. Với những lĩnh vực được xác định là ưu tiên, khoản chi ngân sách còn cần tạo thêm năng lực sản xuất, công nghệ và chuỗi cung ứng trong nước. Đây là cách biến sức mua của Nhà nước thành một yếu tố hỗ trợ năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp.

TÀI LIỆU THAM KHẢO

1. VOV.VN, “Thủ tướng Lê Minh Hưng: Đã dùng ngân sách phải kiểm tra, giám sát chặt chẽ”. https://vov.vn/chinh-tri/thu-tuong-le-minh-hung-da-dung-ngan-sach-phai-kiem-tra-giam-sat-chat-che-post1325436.vov

2. Cổng Thông tin điện tử Chính phủ, “Dự án Luật Đấu thầu (sửa đổi)”, đăng ngày 04/8/2026. https://vanban.chinhphu.vn/?pageid=30187&title=du-an-luat-dau-thau-sua-doi&vbid=7897

3. Báo Điện tử Chính phủ, “Đề xuất chính sách ưu tiên, ưu đãi trong đấu thầu, mua sắm hàng hoá xuất xứ trong nước”, ngày 06/8/2026. https://baochinhphu.vn/de-xuat-chinh-sach-uu-tien-uu-dai-trong-dau-thau-mua-sam-hang-hoa-xuat-xu-trong-nuoc-102260806183936099.htm

4. Văn bản hợp nhất số 74/VBHN-VPQH ngày 25/3/2026 của Văn phòng Quốc hội: Luật Đấu thầu. https://vanban.chinhphu.vn/?docid=217348&pageid=27160

5. Nghị định số 214/2025/NĐ-CP ngày 04/8/2025 của Chính phủ quy định chi tiết một số điều và biện pháp thi hành Luật Đấu thầu về lựa chọn nhà thầu. https://vanban.chinhphu.vn/?classid=1&docid=214821&orggroupid=2&pageid=27160

6. Báo Điện tử Chính phủ, nội dung Chỉ thị số 12/CT-TTg ngày 03/4/2026 về tăng cường, nâng cao hiệu lực, hiệu quả, trách nhiệm trong công tác đấu thầu. https://baochinhphu.vn/chi-dao-dieu-hanh-cua-chinh-phu-thu-tuong-chinh-phu-ngay-3-4-2026-2-102260403225456199.htm

7. Quyết định số 23/2026/QĐ-TTg ngày 15/5/2026 về Danh mục công nghệ cao được ưu tiên đầu tư phát triển và Danh mục sản phẩm công nghệ cao được khuyến khích phát triển. https://vanban.chinhphu.vn/?docid=218111&pageid=27160

8. Báo Điện tử Chính phủ, dự thảo hướng dẫn thực hiện đấu thầu theo CPTPP, EVFTA, UKVFTA, ngày 09/6/2026. https://baochinhphu.vn/de-xuat-huong-dan-thuc-hien-dau-thau-theo-cac-hiep-dinh-cptpp-evfta-ukvfta-10226060917293463.htm