hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
Nhập email của bạn để lấy lại mật khẩu
Chính sách hỗ trợ lãi suất 2% mỗi năm từ ngân sách dành cho các dự án xanh hứa hẹn giúp doanh nghiệp tư nhân khơi thông nguồn vốn chuyển đổi bền vững.
Hành trình hướng tới mục tiêu phát thải ròng bằng 0 vào năm 2050 đang đặt lên vai chuyển đổi xanh một trọng trách vĩ mô vô cùng lớn. Thời gian qua, hoạt động cấp tín dụng xanh tại Việt Nam đã ghi nhận những bước tiến dài với 82 tổ chức tín dụng tham gia, đẩy tổng dư nợ đạt trên 828 nghìn tỷ đồng (tăng gấp 4,6 lần so với năm 2017).

Trong đó, dòng vốn tập trung mạnh nhất vào mảng nông - lâm - thủy sản (chiếm trên 32%) và năng lượng xanh (chiếm trên 30%). Dù tốc độ tăng trưởng bình quân đạt trên 20% mỗi năm, nguồn vốn này vẫn chưa thể bao phủ tương xứng với nhu cầu thực tế của nền kinh tế do một nút thắt lớn ở điểm kết nối cung - cầu.
Khảo sát thực tế chỉ ra một nghịch lý là vốn ngân hàng không thiếu, nhu cầu của doanh nghiệp rất cao, nhưng hai bên lại khó gặp được nhau. Từ phía các doanh nghiệp nhỏ và vừa (SME), có đến 80% đơn vị hoàn toàn không có lịch sử tiếp cận tín dụng. Để chạm tay vào dòng vốn xanh, doanh nghiệp buộc phải chuẩn hóa quy trình, mô hình quản trị và dữ liệu theo các tiêu chuẩn đặc thù rất cao.
Thế nhưng, để thực hiện cuộc cải tổ đó họ lại cần vốn trước, dẫn đến một vòng luẩn quẩn mà điểm nghẽn lớn nhất luôn nằm ở tài sản thế chấp. Ở chiều ngược lại, các nhà băng cũng đối mặt với bài toán đau đầu khi thiếu hệ thống dữ liệu quy hoạch ngành và thông tin tuân thủ môi trường của doanh nghiệp. Hệ quả là công tác thẩm định, giám sát sau cho vay bị chậm nhịp, làm gia tăng chi phí và đẩy rủi ro quản trị tín dụng lên cao.
Theo bà Hà Thu Giang - Vụ trưởng Vụ Tín dụng các ngành kinh tế, Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, rào cản lớn là việc tiếp cận và khai thác dữ liệu về quy hoạch phát triển các dự án xanh theo từng ngành, lĩnh vực cũng như thông tin tình hình tuân thủ các quy định môi trường của doanh nghiệp. Điều này khiến quá trình thẩm định và giám sát sau cho vay đối với các dự án xanh gặp nhiều khó khăn, làm giảm độ chính xác và tính kịp thời trong công tác quản trị rủi ro tín dụng.
Trước áp lực chênh lệch giữa nguồn vốn huy động nội địa và các dòng vốn quốc tế vốn phức tạp, tiềm ẩn rủi ro tỷ giá, giải pháp căn cơ không chỉ dừng lại ở các gói hỗ trợ tài chính đơn lẻ. Ông Nguyễn Hồng Quang, Phó Cục trưởng Cục Môi trường, Bộ Nông nghiệp và Môi trường, phân tích tài chính xanh là một lĩnh vực mới mang tính liên ngành sâu sắc. Hiện tại, dù khung pháp lý đã dần hình thành nhưng lại bị phân tán tại nhiều văn bản khác nhau, thiếu một cơ chế điều phối tổng thể để chia sẻ dữ liệu sinh thái đồng bộ.

Để giải quyết triệt để gốc rễ vấn đề, giới chuyên gia khuyến nghị ưu tiên hàng đầu là phải xây dựng bằng được một hệ sinh thái tín dụng xanh minh bạch và có khả năng đo lường cụ thể. Các cơ quan quản lý cần số hóa, chuẩn hóa bộ chỉ số môi trường để xóa bỏ tình trạng dữ liệu phân tán, từ đó giảm tải chi phí thẩm định cho ngân hàng.
Song song với bệ đỡ chính sách, bản thân các doanh nghiệp tư nhân cũng phải tự lực cánh sinh bằng cách chủ động cấu trúc lại mô hình vận hành theo các tiêu chuẩn ESG (Môi trường - Xã hội - Quản trị). Việc nâng cao năng lực quản trị nội bộ và minh bạch hóa thông tin môi trường chính là chiếc chìa khóa tự thân giúp doanh nghiệp nâng cao hệ số tín nhiệm, biến các dự án xanh trở thành thỏi nam châm hút vốn tự nhiên trên thị trường.
Việc hoàn thiện chính sách bù lãi suất 2% từ ngân sách kết hợp cùng một hệ sinh thái dữ liệu liên ngành đồng bộ chính là lời giải toàn diện nhất ở thời điểm hiện tại, giúp gỡ bỏ rào cản tài sản thế chấp và khơi thông dòng vốn xanh cho khối kinh tế tư nhân bứt phá.
Khi nút thắt về tài sản thế chấp được tháo gỡ bằng cơ chế hỗ trợ tài chính thiết thực, và các tiêu chuẩn ESG được chuẩn hóa thành thước đo minh bạch, dòng tín dụng xanh sẽ không còn là chiếc áo quá rộng đối với các doanh nghiệp nhỏ và vừa, mà trở thành nguồn nhiên liệu tối ưu đưa khối kinh tế tư nhân tiến vào chu kỳ tăng trưởng bền vững mới.