hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
Nhập email của bạn để lấy lại mật khẩu
Theo báo cáo Dữ liệu Khoa học và Kỹ thuật trong kỷ nguyên phát triển bền vững của Viện Quản trị Chính sách và Chiến lược phát triển, đến hết tháng 6/2026, quy mô phát hành lũy kế của thị trường tài chính bền vững toàn cầu đạt 7,3 nghìn tỷ USD; riêng sáu tháng đầu năm đạt 529,7 tỷ USD. Những con số này cho thấy vốn xanh đang dần trở thành một cấu phần đáng kể của thị trường vốn quốc tế, thay vì chỉ tồn tại ở một phân khúc hẹp.
Tại Việt Nam, xu hướng này đang đặt ra yêu cầu kết nối chặt chẽ hơn giữa dữ liệu, khoa học, công nghệ và tài chính. Báo cáo trên, với dữ liệu thực tiễn do VietinBank cung cấp, xem tài chính xanh là một mắt xích trong hệ sinh thái phát triển bền vững, nơi chất lượng dữ liệu, tri thức chuyên gia và khả năng đánh giá tác động có vai trò ngày càng rõ nét.
Sự phát triển của công nghệ cũng đang định hình lại cấu trúc dòng vốn quốc tế. Theo Báo cáo Đầu tư Thế giới 2026 của UNCTAD, FDI toàn cầu đạt khoảng 1,6 nghìn tỷ USD trong năm 2025, tăng 6% so với năm trước. Tuy nhiên, sự phục hồi chưa đồng đều: hơn 80% FDI toàn cầu tập trung vào 20 nền kinh tế tiếp nhận hàng đầu. Báo cáo cũng cho biết các ngành chiến lược chiếm 44% giá trị dự án đầu tư mới trong năm 2025, so với 16% năm 2020; giá trị dự án được công bố trong nhóm này tăng từ 109 tỷ USD lên 576 tỷ USD trong cùng giai đoạn.
Diễn biến này làm thay đổi cách các quốc gia cạnh tranh thu hút đầu tư. Lợi thế không còn chỉ nằm ở chi phí lao động, mà ngày càng phụ thuộc vào chất lượng hệ sinh thái, từ hạ tầng số, nguồn năng lượng ổn định và nhân lực khoa học - công nghệ đến năng lực nghiên cứu, khả năng hấp thụ công nghệ cùng một hệ thống tài chính và thể chế đủ sức thích ứng.
Một trong những ứng dụng trực tiếp của dữ liệu khoa học và kỹ thuật là hỗ trợ quyết định phân bổ vốn, đặc biệt trong tài chính xanh và tài chính liên kết bền vững. Bên cạnh năng lực tài chính, tài sản bảo đảm và dòng tiền, các tổ chức tín dụng ngày càng phải xem xét thêm các tiêu chí môi trường, xã hội và quản trị (ESG), mức độ giảm phát thải, hiệu quả sử dụng tài nguyên và khả năng đo lường tác động. Điều đó đòi hỏi dữ liệu phải có tiêu chuẩn, có thể kiểm chứng và được cập nhật thường xuyên.
Trong hướng tiếp cận này, VietinBank đã triển khai sản phẩm cho vay liên kết bền vững (Sustainability-Linked Loan - SLL) với sự tham gia của tám đối tác trong và ngoài nước. Khác với khoản vay xanh thường gắn với mục đích sử dụng vốn cụ thể, SLL liên kết điều kiện tài chính với việc doanh nghiệp thực hiện các mục tiêu bền vững đã thỏa thuận. Hiệu quả của mô hình vì thế phụ thuộc lớn vào chất lượng chỉ số, dữ liệu đầu vào và cơ chế xác minh kết quả.

VietinBank cho biết đã ban hành Khung Tài chính Bền vững, triển khai tín dụng cho một số lĩnh vực như năng lượng tái tạo, sản xuất xanh và kinh tế tuần hoàn, đồng thời hợp tác với các tổ chức tài chính quốc tế để tiếp cận nguồn vốn dài hạn và kinh nghiệm triển khai. Đến cuối năm 2025, dư nợ tín dụng xanh của ngân hàng đạt gần 53.000 tỷ đồng.
Song song với hoạt động tín dụng, ngân hàng tập trung chuyển đổi trên bốn nhóm gồm số hóa, dữ liệu, công nghệ, tổ chức và con người. Mục tiêu được đặt ra không chỉ là đưa công nghệ mới vào vận hành, mà còn cải thiện hiệu quả tài chính, quản trị rủi ro, năng suất lao động và năng lực đổi mới.
Theo VietinBank, các ứng dụng AI hiện được triển khai trong năm nhóm hoạt động: vận hành, quản lý rủi ro và tín dụng, phát triển phần mềm, cá nhân hóa dịch vụ và hỗ trợ bán hàng. Ngân hàng cho biết nhiều tác vụ và quy trình đã được hỗ trợ hoặc tự động hóa; tuy nhiên, hiệu quả dài hạn vẫn cần được đánh giá bằng các chỉ số cụ thể về năng suất, chất lượng dịch vụ và kiểm soát rủi ro.
Trong bối cảnh dòng vốn và công nghệ toàn cầu biến động, Việt Nam tiếp tục mở rộng quy mô kinh tế và hạ tầng số. Theo số liệu được dẫn trong báo cáo, GDP sáu tháng đầu năm 2026 tăng 8,18% so với cùng kỳ. Tuy nhiên, tăng trưởng về quy mô chỉ tạo lợi thế bền vững khi đi cùng năng lực nghiên cứu, hấp thụ công nghệ và chuyển hóa tri thức thành sản phẩm, dịch vụ.
Đến tháng 7/2026, Bộ Khoa học và Công nghệ đã tiếp nhận 31 hồ sơ nhiệm vụ công nghệ chiến lược với tổng kinh phí đề xuất gần 9.700 tỷ đồng. Báo cáo đồng thời thống kê 2.658 công bố khoa học của Việt Nam trên cơ sở dữ liệu Scopus, 964 doanh nghiệp khoa học và công nghệ cùng 46 tổ chức hỗ trợ đổi mới sáng tạo. Trên bảng xếp hạng hệ sinh thái khởi nghiệp toàn cầu được báo cáo dẫn lại, Việt Nam tăng năm bậc, lên vị trí thứ 50.
Ở lĩnh vực hạ tầng số, báo cáo ghi nhận hơn 4,6 tỷ giao dịch qua Nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu quốc gia và 32,5 triệu chứng thư chữ ký số được cấp tính đến tháng 7/2026. Doanh thu công nghiệp công nghệ số đạt khoảng 662.724 tỷ đồng; kim ngạch xuất khẩu phần cứng, điện tử khoảng 21,5 tỷ USD. Việt Nam được xếp thứ 9 thế giới về tốc độ băng rộng di động, với 210,85 Mbps, và thứ 2 Đông Nam Á về tỷ lệ sử dụng IPv6, đạt 67%; cả nước có hơn 81.600 doanh nghiệp công nghệ số đang hoạt động.

Dù vậy, quy mô nguồn lực lớn chưa bảo đảm năng lực tạo ra giá trị tương xứng. Hàng tỷ giao dịch dữ liệu hay hàng nghìn công bố khoa học chỉ phát huy hiệu quả khi được chuyển hóa thành bằng chứng phục vụ chính sách, công nghệ có khả năng ứng dụng hoặc sản phẩm có thể thương mại hóa. Thách thức cốt lõi nằm ở năng lực hấp thụ công nghệ và khả năng kết nối dữ liệu, tri thức, doanh nghiệp, vốn và chính sách trong một chu trình vận hành thực chất.

Bà Lê Nguyễn Thiên Nga cho rằng Việt Nam cần xây dựng kiến trúc dữ liệu khoa học và kỹ thuật theo hướng liên thông, chuẩn hóa; đồng thời tạo cơ chế liên kết rõ hơn giữa khu vực nghiên cứu, doanh nghiệp và tài chính, qua đó rút ngắn con đường từ ý tưởng khoa học đến ứng dụng thương mại và huy động vốn.
Theo bà Thiên Nga, một yêu cầu khác là hoàn thiện hạ tầng dữ liệu ESG có khả năng xác minh để hỗ trợ tài chính xanh và tín dụng liên kết bền vững. Chính sách thu hút FDI cũng cần vượt ra ngoài cách tiếp cận từng dự án riêng lẻ, hướng tới hình thành mạng lưới nguồn lực trong các lĩnh vực như bán dẫn, AI và năng lượng, đồng thời nâng khả năng chuyển giao công nghệ và kết nối doanh nghiệp trong nước với chuỗi cung ứng toàn cầu.
Chuỗi giá trị này chỉ có thể vận hành khi vai trò của từng chủ thể được xác định rõ. Nhà nước xây dựng thể chế và hạ tầng; viện nghiên cứu, trường đại học cung cấp tri thức và công nghệ; doanh nghiệp tiếp nhận, hoàn thiện và thương mại hóa; hệ thống tài chính đánh giá rủi ro và đưa vốn đến những dự án có khả năng tạo giá trị. Nếu thiếu tiêu chuẩn dữ liệu, cơ chế chia sẻ hoặc thước đo tác động, liên kết giữa các bên dễ dừng ở mức hình thức.
Vì vậy, yêu cầu không chỉ là tạo thêm dữ liệu hay đưa thêm công nghệ vào hoạt động, mà là xây dựng được mối liên kết có thể đo lường: dữ liệu cung cấp bằng chứng, khoa học tạo tri thức, công nghệ hình thành năng lực sản xuất và tài chính đưa nguồn lực vào thực tiễn. Đây là điều kiện để Việt Nam nâng cao năng lực cạnh tranh, thu hút dòng vốn có chất lượng và hướng tăng trưởng vào những giá trị bền vững hơn.