Thứ sáu, 21/08/2020 00:00 (GMT+7)

Kỹ thuật canh tác áp dụng công nghệ cao vào sản xuất nhân giống tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Nhu cầu sử dụng nông sản an toàn, hạn chế sử dụng thuốc bảo vệ thực vật đang ngày càng được người dân hướng tới. Đứng trước nhu cầu đó, Học viện Nông nghiệp Việt Nam áp dụng kỹ thuật canh tác công nghệ cao như kỹ thuật khí canh, thủy canh vào sản xuất nông nghiệp, vừa tiết kiệm chi phí, vừa nâng cao năng suất và chất lượng giống cây trồng.

Công nghệ khí canh áp dụng chủ yếu trong sản xuất khoai tây

Công nghệ khí canh áp dụng trong sản xuất khoai tây tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam

Hiểu một cách đơn giản nhất, khí canh là hệ thống trồng cây không cần đất, thay vào đó, cây được trồng trong môi trường không khí. Dinh dưỡng được phun dưới dạng sương mù. Hiện nay, nhiều giống cây trồng như khoai tây đã được sản xuất bằng công nghệ khí canh tích hợp với công nghệ 4.0 trong nhà kính tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam. Các hệ thống máy móc hoạt động, hệ thống thông gió, hệ thống điều khiển ánh sáng… hoàn toàn bằng tự động như robot thông qua phần mềm được cài đặt trong máy tính. Ví dụ, khi nhiệt độ trong nhà lên cao thì hệ thống sẽ tự động phun nước chảy tuần hoàn qua dàn mát để giảm nhiệt độ khoảng 5 đến 10 độ. Nếu mùa đông nhiệt độ thấp so với ngưỡng, hệ thống sẽ tự động đóng các tời lại để giảm thiểu tác động lạnh của nhiệt độ bên ngoài.

Mô hình sản xuất khí canh có hệ thống trồng cây trong các bồn kín, trong đó có máy móc hoạt động phun chất dinh dưỡng trực tiếp vào bộ rễ để cây hấp thụ. Từ các bồn kín sẽ có máy bơm cung cấp nước cho toàn bộ cây trên giàn trồng, nhân viên kỹ thuật chỉ cần cho chất dinh dưỡng vào bồn, sau đó máy móc sẽ tự động pha chất dinh dưỡng để cung cấp cho cây trồng theo ngưỡng đã cài đặt.

Chất dinh dưỡng được phun trực tiếp vào bộ rễ để cây hấp thụ

Công nghệ này hiện tại đang được áp dụng cho cây khoai tây tại Học viện Nông nghiệp Việt Nam bằng cách lấy các mô ở phòng nuôi cấy mô giống và cho ra cắm gốc vào các lỗ trên giàn khí canh. Tiếp đến là đặt các chế độ dinh dưỡng phù hợp với cây khoai tây, khoai tây sẽ sinh trưởng và chờ ngày thu hoạch những giống củ khoai tây gốc tốt nhất. Bình thường, khoai tây nếu đem trồng ngay ngoài đồng ruộng thì sẽ bị nhiễm bệnh, bị thoái hóa. Vì vậy phải nuôi từ những tế bào gốc sạch bệnh, nuôi trong môi trường sạch sẽ và không có tác động của điều kiện ngoại cảnh. Sau khi khi thu hoạch giống khoai tây gốc từ công nghệ khí canh trong nhà kính, củ gốc được giao cho nông dân trồng ra đất, sau đó Viện Sinh học Nông nghiệp Việt Nam thu mua về bảo quản ở nhiệt độ thấp để giảm sức hô hấp, giúp củ không mọc mầm và giảm hao hụt. Tiếp tục quy trình đó đến 4 đời, vừa nhân giống lên số lượng lớn vừa đảm bảo được giống sạch để thu được những củ tốt nhất cung cấp cho Nhà máy chế biến.

Củ khoai tây được sản xuất với số lượng lớn nhờ công nghệ khí canh

Kỹ thuật canh tác áp dụng công nghệ khí canh có điểm vượt trội là trong điều kiện hảo khí nên mức độ tăng trưởng có thể tăng gấp 20 lần so với trồng đất tùy từng loại cây; cực kì sạch bệnh bởi có nhà lưới nilon chắn côn trùng, gần như không có các yếu tố ngoại cảnh tác động.

Công nghệ thủy canh áp dụng cho các loại rau

Thủy canh là một kỹ thuật trồng cây trong môi trường dung dịch dinh dưỡng, đơn giản có thể hiểu là việc trồng cây trong nước. Nguyên lý của phương pháp này chính là dùng nước làm môi trường cung cấp đầy đủ cho cây các nguyên tố, dinh dưỡng cần thiết đúng lúc để cây phát triển, vẫn đảm bảo đầy đủ ánh sáng cho quá trình quang hợp, hô hấp của cây để cây có thể phát triển mạnh với năng suất cao.

Xà lách được áp dụng công nghệ thủy canh để rút ngắn thời gian nuôi trồng

Công nghệ này chủ yếu áp dụng cho những loại rau, rau được nuôi trồng trong những ống chứa nước và có máy bơm chảy nước liên tục tuần hoàn. Chất dinh dưỡng được cho trực tiếp thủ công vào trong bình chứa, máy bơm cung cấp dinh dưỡng trực tiếp theo dòng nước. Mỗi ngày, nhân viên kỹ thuật sẽ vào kiểm tra nồng độ chất dinh dưỡng có đạt ngưỡng hay không.

Áp dụng trồng thủy canh cho trồng rau giúp cho nông dân có thể trồng trái vụ và đặt biệt rút ngắn được thời gian nuôi trồng. Ví dụ một cây bình thường ngoài đất có thể mất 1 tháng để thu hoạch, nhưng áp dụng công nghệ này thì chỉ cần 15 – 20 ngày. Hơn nữa, rau trồng theo công nghệ này sẽ không bị sâu bệnh phá hoại, giảm thiểu tác động có hại đến cho sức khỏe người tiêu dùng, tăng hiệu quả kinh tế. Ngoài ra, giúp tiết kiệm nhân lực, tiết kiệm chất dinh dưỡng và ra đời được sản phẩm đảm bảo an toàn.

Linh Chi – Trần Thùy