hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
Nhập email của bạn để lấy lại mật khẩu
Trong chiến lược phát triển năng lượng quốc gia của Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045, Bộ Chính trị đã đưa ra nhiệm vụ phát triển công nghiệp khí vì sử dụng điện khí LNG phù hợp với xu hướng của thế giới hiện nay, giúp giảm sự phụ thuộc vào nhiệt điện than, giảm phát thải, bảo vệ môi trường và hướng đến mục tiêu phát triển bền vững của đất nước.
Các dự án điện khí hiện đang không theo kịp với tiến độ đề ra
Quyết định số 500/QĐ-TTg ngày 15/5/2023 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Quy hoạch phát triển điện lực quốc gia thời kỳ 2021 - 2030, tầm nhìn đến năm 2050 (Quy hoạch điện VIII) cũng đã xác định rõ một trong những định hướng phát triển điện lực quốc gia là: Khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồn năng lượng hóa thạch trong nước kết hợp với nhập khẩu, giảm dần tỷ trọng nhiệt điện than, ưu tiên phát triển điện khí trong nước, phát triển các nguồn điện khí LNG nhập khẩu với quy mô phù hợp.
Theo đó, đến năm 2030, tổng công suất các nhà máy điện phục vụ nhu cầu trong nước 150.489 MW (không bao gồm xuất khẩu, điện mặt trời mái nhà hiện hữu, năng lượng tái tạo để sản xuất năng lượng mới), trong đó nguồn nhiệt điện khí trong nước đạt 14.930 MW (chiếm 9,9%); nhiệt điện LNG là 22.400 MW (chiếm 14,9%); nguồn điện nhập khẩu đạt khoảng 5.000 MW (chiếm 3,3%), nhưng có thể lên đến 8.000 MW.
Bộ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Hồng Diên cho biết, từ nay đến năm 2030 nhu cầu điện của đất nước cần khoảng 70.524 MW, gần gấp đôi công suất hiện nay. Về mặt cơ cấu chúng ta phải chuyển rất mạnh từ cơ cấu điện từ nguồn sử dụng nhiên liệu hóa thạch (than, dầu và điện khí) sang những loại nhiên liệu thân thiện hơn với môi trường để đạt mục tiêu trung hòa các bon vào năm 2050. Do đó, việc phát triển sản xuất điện khí là nhiệm vụ quan trọng. Theo Quy hoạch điện VIII, từ nay đến năm 2030, Việt Nam phải phát triển 30.424 MW điện khí. Trong đó, khí tự nhiên trong nước là 7.900MW được thực hiện từ 10 dự án đã được duyệt trong Quy hoạch; 13 dự án khí hóa lỏng vưới công suất 22.524 MW sẽ phải nhập khẩu từ nước ngoài. Và việc triển khai các dự án điện khí hiện đang không theo kịp với tiến độ đề ra.
Ông Tô Xuân Bảo - Cục trưởng Cục Điện lực và Năng lượng tái tạo cũng thông tin, theo Quy hoạch điện VIII, tổng quy mô công suất các dự án nhà máy điện khí được đầu tư xây dựng và đưa vào vận hành đến năm 2030 là 30.424 MW (23 dự án), trong đó: tổng công suất nhà máy điện khí sử dụng khí khai thác trong nước là 7.900 MW (10 dự án), tổng công suất nhà máy điện khí sử dụng LNG là 22.524 MW (13 dự án).
Dù vậy, tính đến tháng 4/2023 nước ta mới có Nhà máy nhiệt điện (NMNĐ) Ô Môn I (660 MW) đã đưa vào vận hành năm 2015, sử dụng nhiên liệu dầu và dự kiến sẽ chuyển sang sử dụng nhiên liệu khí sau khi có khí từ mỏ khí Lô B.
Một dự án khác đang xây dựng là Dự án nhà máy điện Nhơn Trạch 3 và Nhơn Trạch 4, công suất 1.624 MW, tiến độ đạt 85%. Dự án nhà máy điện Nhơn Trạch 3 và Nhơn Trạch 4 sử dụng LNG từ Kho cảng LNG Thị Vải. Hiện tại, dự án Kho cảng LNG Thị Vải đã hoàn thành thi công và đưa vào sử dụng, sẵn sàng cấp LNG cho Dự án nhà máy nhiệt điện Nhơn Trạch 3 và Nhơn Trạch 4.
Có 18 dự án đang trong quá trình chuẩn bị đầu tư xây dựng (tổng công suất 23.640 MW), và ba dự án đang lựa chọn nhà đầu tư với tổng công suất 4.500 MW gồm các dự án Cà Ná, Nghi Sơn, Quỳnh Lập.
Giải quyết kịp thời các vướng mắc dự án năng lượng trọng điểm
Chủ trương đã có, nhưng trong quá trình triển khai các dự án đã gặp rất nhiều khó khăn, vướng mắc chủ yếu liên quan đến việc đàm phán ký kết các hợp đồng; tiến độ giải phóng mặt bằng tại các địa phương; một số địa phương chưa thể đàm phán, ký kết Thoả thuận đấu nối cho dự án do chưa xác định được chủ đầu tư các dự án đường dây truyền tải để giải toả công suất; các đề xuất ưu đãi, đảm bảo đầu tư của nhà đầu tư chưa phù hợp với quy định pháp luật hiện hành…
Nhằm thực hiện tốt các mục tiêu đã đề ra trong Quy hoạch điện VIII, Bộ trưởng Bộ Công Thương Nguyễn Hồng Diên đã đề nghị các tỉnh Thanh Hóa, Nghệ An, Ninh Thuận hoàn thành việc lựa chọn nhà thầu đúng trước ngày 15/7/2024 theo đúng Luật đầu tư và các quy định có liên quan. Đặc biệt, ngay khi lựa chọn nhà đầu tư, các địa phương cần lên tiến độ và có cam kết thực hiện tiến độ đối với nhà đầu tư đó.
Đối với Tập đoàn Điện lực Việt Nam EVN, căn cứ vào quy định pháp luật hiện hành và Thông tư 57 sửa đổi phải khẩn trương, có trách nhiệm hướng dẫn chủ đầu tư trong quá trình đàm phán PPA, báo cáo Bộ công Thương các vướng mắc trong quá trình thực hiện để kịp thời giải quyết. Khẩn trương hoàn thành đàm phán, ký kết hợp đồng PPA với chủ đầu tư, nhất là dự án Nhơn Trạch 3 và 4 và các dự án thuộc Chuỗi khí Lô B trong Quý II/2024.
Đồng thời nhanh chóng đề xuất cấp có thẩm quyền được giao làm chủ đầu tư các đường dây truyền tải để giải tỏa công suất cho các nhà máy điện khí, đẩy mạnh tiến độ triển khai các dự án đường dây truyền tải trong hệ sinh thái điện khí đã được cấp có thẩm quyền giao làm chủ đầu tư. Các dự án truyền tải chưa rõ chủ đầu tư cần đề xuất chủ đầu tư trong tháng 4/2024. Các dự án đã lựa chọn chủ đầu tư cần lên tiến độ như các nhà máy điện khí.
Với tư cách là chủ đầu tư được duyệt, EVN cần khẩn trương triển khai thực hiện các dự án điện Quảng Trạch I, Quảng Trạch II đáp ứng tiến độ đã được phê duyệt
Đối với Tập đoàn Dầu khí Việt Nam, cần khẩn trương triển khai thực hiện Chuỗi dự án khí điện Lô B và các dự án điện Ô Môn III, Ô Môn IV; hoàn thiện, ký kết hợp đồng bán khí cho các dự án điện sử dụng khí Lô B; triển khai thực hiện các dự án điện, khí đã được giao làm chủ đầu tư để sớm đưa vào vận dụng.
Bộ trưởng Nguyễn Hồng Diên một lần nữa khẳng định các dự án điện khí trong Quy hoạch điện VIII là nguồn năng lượng vô cùng quan trọng, không chỉ bảo đảm đủ tổng nguồn trong Quy hoạch, mà còn là nguồn điện nền để huy động, khai thác nguồn năng lượng tái tạo như gió, mặt trời. Do đó, Bộ trưởng yêu cầu Văn phòng Ban chỉ đạo nhà nước các dự án trọng điểm thường xuyên kiểm tra, đôn đốc báo cáo Trưởng ban chỉ đạo để giải quyết kịp thời các vướng mắc của các dự án trọng điểm ngành năng lượng.