hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
Nhập email của bạn để lấy lại mật khẩu
Chính sách khuyến công đang hỗ trợ doanh nghiệp, hợp tác xã và cơ sở sản xuất tại Nghệ An đổi mới công nghệ, tăng năng suất và mở rộng thị trường.
Tuy nhiên, nguồn kinh phí còn hạn chế, trong khi phần lớn cơ sở sản xuất có quy mô nhỏ và năng lực quản trị chưa cao. Điều này đòi hỏi hoạt động khuyến công phải chuyển sang cách hỗ trợ toàn diện, gắn đầu tư công nghệ với chuyển đổi số, sản xuất xanh và phát triển thị trường.
Khuyến công đang tập trung vào những nhu cầu trực tiếp của doanh nghiệp và cơ sở sản xuất công nghiệp nông thôn, gồm đổi mới máy móc, đào tạo quản trị, xúc tiến thương mại và nâng cao năng lực sản xuất.
Kết quả tại các mô hình được hỗ trợ cho thấy năng suất tăng 20-40%, chi phí lao động giảm, giá thành sản xuất được kéo xuống và thị trường tiêu thụ được mở rộng. Nguồn vốn khuyến công cũng tạo điều kiện để các cơ sở huy động thêm vốn đối ứng, tăng quy mô đầu tư.
Năm 2026, Nghệ An bố trí 5.500 triệu đồng cho hoạt động khuyến công. Đợt 1 phân bổ 1.578,7 triệu đồng cho 9 đề án; đợt 2 phân bổ 3.587,6 triệu đồng cho 14 đề án. Tổng tiến độ thực hiện đạt 94% kế hoạch được giao.

Trong danh mục này, 12 đề án được hỗ trợ trực tiếp để đầu tư máy móc, thiết bị tiên tiến cho các ngành chế biến, cơ khí, may, nội thất gỗ công nghiệp và một số lĩnh vực có lợi thế của địa phương. 11 đề án còn lại tập trung vào hội chợ, triển lãm, xúc tiến thương mại, đào tạo quản trị, bình chọn sản phẩm công nghiệp nông thôn tiêu biểu và tuyên truyền chính sách.
Những con số trên cho thấy nguồn vốn khuyến công đang đi vào các khâu có khả năng tạo tác động trực tiếp đến sản xuất. Máy móc mới giúp tăng năng suất, giảm lao động thủ công và hạ chi phí. Xúc tiến thương mại giúp doanh nghiệp tiếp cận thị trường. Đào tạo quản trị giúp các cơ sở nâng khả năng tổ chức sản xuất và điều hành.
Tuy nhiên, quy mô nguồn lực vẫn là điểm nghẽn lớn. Kinh phí khuyến công địa phương chỉ đáp ứng một phần nhỏ nhu cầu của hàng trăm cơ sở sản xuất mỗi năm. Vì vậy, nhiều nội dung cần thiết như sản xuất sạch hơn, xử lý môi trường, chuyển đổi số, xây dựng thương hiệu, truy xuất nguồn gốc và thương mại điện tử chưa thể triển khai rộng.
Năng lực của nhóm thụ hưởng cũng là một hạn chế. Phần lớn doanh nghiệp, hợp tác xã và hộ sản xuất có quy mô nhỏ, tiềm lực tài chính hạn chế, năng lực quản trị chưa đồng đều và còn tâm lý e ngại khi đầu tư công nghệ. Điều này khiến hiệu quả của chính sách phụ thuộc lớn vào khả năng đối ứng và năng lực triển khai của từng cơ sở.
Yêu cầu đặt ra với Nghệ An là thay đổi phương thức hỗ trợ để nguồn vốn khuyến công tạo giá trị lớn hơn cho doanh nghiệp. Thay vì tập trung vào một máy móc hoặc một công đoạn, chính sách cần hỗ trợ cả chuỗi từ sản xuất đến tiêu thụ.
Theo hướng này, doanh nghiệp có thể được hỗ trợ đồng thời về tự động hóa, sản xuất xanh, bao bì, mã QR, truy xuất nguồn gốc, sở hữu trí tuệ và thương mại điện tử. Khi các khâu được kết nối, hiệu quả đầu tư sẽ được thể hiện qua năng suất, chất lượng sản phẩm, khả năng kiểm soát chi phí và mở rộng thị trường.
Đây cũng là cách để giải quyết hạn chế phổ biến của các cơ sở sản xuất nhỏ. Một thiết bị hiện đại có thể giúp tăng năng suất, nhưng chưa đủ để tạo sức cạnh tranh nếu doanh nghiệp thiếu thương hiệu, thiếu khả năng truy xuất nguồn gốc hoặc chưa có kênh tiêu thụ ổn định.

Chuyển đổi số và sản xuất xanh vì vậy cần trở thành những nội dung trọng tâm của khuyến công giai đoạn tới. Các cơ sở sản xuất cần được hỗ trợ tiếp cận công nghệ phù hợp với quy mô, nâng khả năng quản lý dữ liệu, kiểm soát quy trình và đáp ứng yêu cầu của thị trường.
Cùng với đó, xúc tiến thương mại cần gắn trực tiếp với năng lực sản xuất. Việc đưa sản phẩm tới hội chợ, triển lãm chỉ tạo hiệu quả khi doanh nghiệp có sản phẩm đủ chất lượng, năng lực cung ứng ổn định và phương án phát triển thị trường sau kết nối.
Một vấn đề khác cần xử lý là cơ chế và nguồn lực. Việc sắp xếp bộ máy theo mô hình chính quyền địa phương hai cấp đã ảnh hưởng đến khảo sát, lập kế hoạch và giải ngân. Một số định mức kinh tế - kỹ thuật và quy định quản lý kinh phí cũng cần được hoàn thiện để hoạt động khuyến công triển khai thuận lợi hơn.
Tài liệu đặt ra yêu cầu huy động thêm nguồn lực xã hội hóa, đồng thời lồng ghép khuyến công với các chương trình phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, chuyển đổi số, tăng trưởng xanh và các chương trình mục tiêu quốc gia. Cách làm này giúp giảm sự phụ thuộc vào nguồn ngân sách khuyến công và mở rộng khả năng hỗ trợ doanh nghiệp.
Với Nghệ An, nhiệm vụ trước mắt là ưu tiên các đề án có khả năng tạo hiệu quả rõ ràng về công nghệ, chuyển đổi số và sản xuất xanh; tăng đào tạo quản trị, kết nối cung cầu và xúc tiến thương mại. Việc khảo sát nhu cầu hỗ trợ cho năm 2027 cũng cần thực hiện sát với từng nhóm ngành, từng địa bàn và từng quy mô doanh nghiệp.
Khuyến công chỉ phát huy hiệu quả khi doanh nghiệp sử dụng được nguồn hỗ trợ để tạo ra năng lực mới. Mục tiêu không dừng ở việc hoàn thành số lượng đề án hay giải ngân kinh phí, mà phải thể hiện ở năng suất cao hơn, chi phí thấp hơn, sản phẩm có chất lượng tốt hơn và thị trường rộng hơn.
Đến năm 2030, Nghệ An hướng tới biến khuyến công thành công cụ hỗ trợ toàn diện cho quá trình hiện đại hóa công nghiệp nông thôn. Để đạt mục tiêu này, chính sách cần đi sát doanh nghiệp, phân bổ nguồn lực đúng nhu cầu và chuyển mạnh từ hỗ trợ từng hạng mục sang phát triển năng lực sản xuất theo chuỗi giá trị.