hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
Nhập email của bạn để lấy lại mật khẩu
Trong bối cảnh kinh tế thế giới tiếp tục diễn biến phức tạp, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết 168/NQ-CP cập nhật kịch bản tăng trưởng và các giải pháp trọng tâm cho những tháng còn lại của năm 2026, với mục tiêu phấn đấu tăng trưởng GDP từ 10% trở lên.
Không chỉ đặt ra các chỉ tiêu cụ thể, nghị quyết còn thể hiện quyết tâm khơi thông đồng thời các động lực về đầu tư, tiêu dùng, xuất khẩu, đổi mới sáng tạo và cải cách thể chế nhằm tạo nền tảng cho tăng trưởng nhanh nhưng bền vững.
Nửa đầu năm 2026, mặc dù chịu tác động từ những biến động địa chính trị và kinh tế toàn cầu, đặc biệt là xung đột tại Trung Đông, kinh tế Việt Nam vẫn duy trì đà tăng trưởng tích cực, nhiều chỉ tiêu đạt kết quả cao nhất trong nhiều năm. Tuy nhiên, để hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng từ 10% trở lên cho cả năm, Chính phủ nhận định dư địa không còn nhiều, trong khi áp lực từ thị trường quốc tế, lạm phát, thương mại và dòng vốn vẫn hiện hữu.

Trong bối cảnh đó, Nghị quyết 168/NQ-CP được ban hành với yêu cầu xuyên suốt là phát huy tối đa mọi nguồn lực để tạo bước đột phá cho nền kinh tế, song vẫn bảo đảm ổn định kinh tế vĩ mô, kiểm soát lạm phát và giữ vững các cân đối lớn.
Điểm đáng chú ý của nghị quyết là định hướng phối hợp chặt chẽ giữa chính sách tài khóa và chính sách tiền tệ. Thay vì vận hành độc lập, hai công cụ điều hành này được yêu cầu hỗ trợ lẫn nhau nhằm vừa tạo thanh khoản cho nền kinh tế, vừa duy trì ổn định tài chính.
Ở góc độ tài khóa, Chính phủ yêu cầu tiếp tục thực hiện chính sách mở rộng có trọng tâm, trọng điểm. Bộ Tài chính được giao nghiên cứu điều chỉnh linh hoạt chính sách thuế đối với xăng dầu và nhiên liệu bay phù hợp với diễn biến giá thế giới; đồng thời khẩn trương phân bổ nguồn tăng thu ngân sách, hoàn thành kế hoạch vốn đầu tư công trung hạn giai đoạn 2026-2030 và bảo đảm nguồn lực thực hiện tăng lương cơ sở từ ngày 1/7/2026. Cùng với đó là yêu cầu triệt để tiết kiệm chi thường xuyên, cắt giảm các khoản chi chưa thực sự cấp thiết để dành nguồn lực cho đầu tư phát triển.
Ở phía chính sách tiền tệ, Ngân hàng Nhà nước tiếp tục được giao điều hành chủ động, linh hoạt nhằm ổn định mặt bằng lãi suất, thị trường tiền tệ và ngoại hối. Dòng vốn tín dụng được định hướng tập trung vào sản xuất, kinh doanh, các dự án trọng điểm và động lực tăng trưởng mới, đồng thời kiểm soát chặt tín dụng đối với những lĩnh vực tiềm ẩn rủi ro.
Một điểm mới đáng chú ý là Chính phủ yêu cầu tiếp tục nghiên cứu nâng tỷ lệ tiền gửi có kỳ hạn của Kho bạc Nhà nước tại các ngân hàng thương mại. Đây được xem là giải pháp hỗ trợ thanh khoản cho hệ thống ngân hàng, tăng hiệu quả phối hợp giữa chính sách tài khóa và tiền tệ, qua đó bổ sung nguồn vốn ngắn hạn cho nền kinh tế mà không làm gia tăng áp lực phát hành nợ công.
Đầu tư công tiếp tục giữ vai trò "đầu kéo" của tăng trưởng. Nghị quyết yêu cầu các bộ, ngành và địa phương phải bảo đảm giải ngân 100% kế hoạch vốn được giao trong năm 2026; xây dựng kịch bản giải ngân theo từng tuần, từng tháng, từng quý và gắn trách nhiệm trực tiếp của người đứng đầu với kết quả thực hiện.
Khác với những năm trước, lần này Chính phủ nhấn mạnh yêu cầu xử lý tận gốc các điểm nghẽn khiến tiến độ đầu tư công bị chậm như thiếu vật liệu xây dựng, chậm cấp phép mỏ đất, cát, đá, giải phóng mặt bằng và thiếu hụt lao động. Đồng thời, các địa phương phải chủ động rà soát những dự án tồn đọng, kéo dài để sớm đưa nguồn lực vào nền kinh tế thay vì để vốn tiếp tục "nằm chờ".
Song song với đó, thị trường vốn tiếp tục được xác định là một trong những kênh huy động nguồn lực quan trọng. Chính phủ yêu cầu đẩy nhanh sửa đổi Luật Chứng khoán, phát triển các sản phẩm tài chính mới, nâng cao năng lực thị trường chứng khoán và xây dựng cơ chế thu hút dòng vốn quốc tế vào Trung tâm tài chính quốc tế tại Việt Nam. Đây được kỳ vọng sẽ mở thêm kênh dẫn vốn dài hạn cho doanh nghiệp, giảm áp lực phụ thuộc vào tín dụng ngân hàng.
Nếu chính sách vĩ mô tạo nền tảng ổn định, thì cải cách thể chế và cải thiện môi trường đầu tư được xem là điều kiện để chuyển hóa nguồn lực thành tăng trưởng thực chất.
Nghị quyết yêu cầu các bộ, ngành tiếp tục cắt giảm thủ tục hành chính, đơn giản hóa quy định về kiểm dịch, môi trường, xuất nhập khẩu và logistics; đồng thời tăng cường đối thoại với doanh nghiệp để kịp thời tháo gỡ khó khăn phát sinh. Tinh thần xuyên suốt là lấy doanh nghiệp làm trung tâm của quá trình cải cách và coi sự phát triển của khu vực doanh nghiệp là động lực trực tiếp cho mục tiêu tăng trưởng hai con số.

Trong lĩnh vực công nghiệp, Chính phủ định hướng phát triển các ngành có giá trị gia tăng cao như cơ khí chế tạo, đường sắt đô thị, công nghiệp đóng tàu, thiết bị điện gió ngoài khơi, khai thác và chế biến sâu đất hiếm, dầu khí... Đồng thời, các bộ, ngành phải xây dựng lộ trình nâng tỷ lệ nội địa hóa, phát triển công nghiệp hỗ trợ nhằm từng bước giảm nhập siêu và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp trong nước.
Hạ tầng tiếp tục là lĩnh vực được ưu tiên đặc biệt. Chính phủ yêu cầu đẩy nhanh tiến độ các tuyến đường sắt đô thị tại Hà Nội và TP.HCM, các tuyến kết nối với Trung Quốc, đường sắt tốc độ cao Bắc - Nam, cùng nhiều dự án cảng hàng không và hạ tầng logistics quy mô lớn. Việc khơi thông các dự án này không chỉ tạo dư địa tăng trưởng trong ngắn hạn mà còn góp phần nâng cao năng lực kết nối của nền kinh tế trong dài hạn.
Đối với thị trường bất động sản, trọng tâm không còn là mở rộng nguồn cung bằng mọi giá mà hướng đến phát triển an toàn, bền vững. Chính phủ yêu cầu đẩy nhanh các dự án nhà ở xã hội, đồng thời khuyến khích các địa phương quy hoạch quỹ đất phát triển nhà ở cho thuê gắn với khu công nghiệp, khu kinh tế nhằm đáp ứng nhu cầu của lực lượng lao động và hỗ trợ doanh nghiệp ổn định sản xuất.
Trong lĩnh vực thương mại và tiêu dùng, các chương trình kích cầu thị trường nội địa tiếp tục được đẩy mạnh, gắn với cuộc vận động "Người Việt Nam dùng hàng Việt Nam". Bên cạnh đó, Chính phủ yêu cầu tận dụng hiệu quả các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, mở rộng xuất khẩu sang các thị trường trọng điểm như Trung Quốc, Ấn Độ và các nền kinh tế châu Á - Thái Bình Dương, đồng thời chủ động ứng phó với các biện pháp phòng vệ thương mại từ các đối tác lớn.
Ngành du lịch cũng được kỳ vọng trở thành động lực tăng trưởng quan trọng thông qua việc cơ cấu lại sản phẩm, thúc đẩy liên kết giữa hàng không, đường sắt, lưu trú và lữ hành để tạo ra các gói dịch vụ cạnh tranh, kéo dài thời gian lưu trú và gia tăng chi tiêu của du khách.
Đối với nông nghiệp, trọng tâm là nâng cao chất lượng nông sản, mở rộng cấp mã số vùng trồng, tháo gỡ các rào cản kỹ thuật và hỗ trợ xuất khẩu những ngành hàng chủ lực như sầu riêng, thủy sản. Đồng thời, các địa phương phải chủ động xây dựng kịch bản ứng phó với hạn hán, El Nino nhằm bảo đảm nguồn nước cho sản xuất và đời sống.
Một trong những điểm nhấn của nghị quyết là yêu cầu đẩy mạnh chuyển đổi số và đổi mới sáng tạo. Trong năm 2026, các bộ, ngành phải hoàn thành kết nối các cơ sở dữ liệu quốc gia về Trung tâm dữ liệu quốc gia; hoàn thiện 19/19 tiêu chí đối với 12 cơ sở dữ liệu trọng yếu trong quý III. Cùng với đó là phát triển các ngành công nghệ chiến lược, hoàn thiện khung năng lực cán bộ, bộ KPI đánh giá hiệu quả công việc và tiếp tục hoàn thiện hệ thống pháp luật với gần 50 dự án luật, pháp lệnh dự kiến trình Quốc hội trong năm.
Bảo đảm an ninh năng lượng cũng được đặt ở vị trí trung tâm của kịch bản tăng trưởng. Chính phủ yêu cầu triển khai hiệu quả Quy hoạch điện VIII điều chỉnh, bảo đảm không để thiếu điện trong bất kỳ tình huống nào, đồng thời phấn đấu tiết kiệm tối thiểu 3% tổng điện năng tiêu thụ toàn quốc trong năm 2026. Đây là điều kiện quan trọng để duy trì hoạt động sản xuất, đặc biệt trong bối cảnh nhu cầu điện của khu vực công nghiệp tiếp tục tăng cao.
Nghị quyết 168/NQ-CP không chỉ là bản cập nhật kịch bản tăng trưởng cho những tháng cuối năm mà còn thể hiện cách tiếp cận điều hành theo hướng đồng bộ hơn giữa chính sách vĩ mô, cải cách thể chế và phát triển thị trường. Việc hiện thực hóa mục tiêu tăng trưởng từ 10% trở lên sẽ phụ thuộc vào tốc độ triển khai các giải pháp tại từng bộ, ngành, địa phương cũng như khả năng khơi thông nguồn lực của khu vực doanh nghiệp. Nếu các điểm nghẽn về thể chế, đầu tư và hạ tầng được tháo gỡ đúng tiến độ, nền kinh tế sẽ có thêm nền tảng để duy trì đà tăng trưởng cao, đồng thời nâng cao sức cạnh tranh trong giai đoạn phát triển mới.