Thứ năm, 22/10/2026 16:41 (GMT+7)

Khơi thông 38,5 triệu tỷ đồng vốn cho tăng trưởng

Minh Anh

Nhu cầu vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2026–2030 ước đạt 38,5 triệu tỷ đồng, đặt ra yêu cầu phát triển thị trường vốn, giảm áp lực cho hệ thống ngân hàng và nâng cao hiệu quả sử dụng nguồn lực.

Đa dạng hóa nguồn vốn, giảm áp lực cho ngân hàng

Giai đoạn 2026–2030, Việt Nam đặt mục tiêu tăng trưởng GDP 9–10% mỗi năm, kéo theo nhu cầu huy động vốn đầu tư ở quy mô lớn. Theo các phân tích tại hội thảo “Tháo gỡ điểm nghẽn – Khơi thông nguồn lực – Thúc đẩy tăng trưởng”, tổng nhu cầu vốn đầu tư toàn xã hội trong giai đoạn này ước tính khoảng 38,5 triệu tỷ đồng, tương đương 1.467 tỷ USD, cao hơn gấp đôi mức 17,4 triệu tỷ đồng của giai đoạn 2021–2025.

Quy mô vốn cần huy động tạo áp lực lớn lên hệ thống tài chính, trong bối cảnh tín dụng ngân hàng vẫn giữ vai trò chủ đạo trong cung ứng vốn cho nền kinh tế. Để đáp ứng nhu cầu đầu tư, các chuyên gia cho rằng Việt Nam cần đa dạng hóa kênh dẫn vốn, phát triển thị trường chứng khoán và trái phiếu doanh nghiệp, đồng thời tháo gỡ các điểm nghẽn thể chế khiến nguồn lực chưa được đưa vào sản xuất, kinh doanh hiệu quả.

Hội thảo "Tháo gỡ điểm nghẽn - Khơi thông nguồn lực - Thúc đẩy tăng trưởng" - Ảnh: chinhphu.vn

Theo TS. Cấn Văn Lực, Chuyên gia Kinh tế trưởng BIDV, Thành viên Hội đồng Tư vấn chính sách tài chính – tiền tệ quốc gia, để đạt mục tiêu tăng trưởng GDP 9–10% mỗi năm trong giai đoạn 2026–2030, tỷ lệ đầu tư toàn xã hội cần đạt 36–39% GDP, tương đương khoảng 260–300 tỷ USD mỗi năm.

Trong cơ cấu huy động, khu vực tư nhân trong nước và các nguồn khác được xác định giữ vai trò chủ lực, chiếm 65,5%; khu vực Nhà nước chiếm 22%; khu vực đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) chiếm 12,5%. Cơ cấu này cho thấy yêu cầu huy động nguồn lực từ nhiều khu vực, trong đó vốn tư nhân cần trở thành động lực quan trọng để đáp ứng nhu cầu đầu tư ngày càng lớn.

Tuy nhiên, khả năng cung ứng vốn của hệ thống ngân hàng đang chịu sức ép từ tình trạng mất cân đối kỳ hạn. Theo số liệu được trình bày tại hội thảo, khoảng 80% vốn huy động có kỳ hạn dưới 12 tháng, trong khi 50% dư nợ tín dụng là các khoản vay trung và dài hạn. Sự chênh lệch này tạo áp lực lên thanh khoản và khả năng cân đối nguồn vốn của các tổ chức tín dụng.

TS. Nguyễn Đức Hiển, Phó Trưởng Ban Chính sách, Chiến lược Trung ương, cho rằng mục tiêu tăng trưởng cao cần được đặt trong tổng thể hệ thống tài chính và cơ cấu phân bổ vốn, thay vì tiếp tục tập trung chủ yếu vào tín dụng ngân hàng.

Theo đó, thị trường chứng khoán cần phát huy vai trò cung ứng vốn trung và dài hạn thông qua việc nâng cao chất lượng doanh nghiệp niêm yết, minh bạch thông tin và cải thiện khả năng thu hút nhà đầu tư trong nước, quốc tế. Thị trường trái phiếu doanh nghiệp cũng cần được phát triển theo hướng gắn hoạt động phát hành với nhu cầu vốn thực tế, nâng cao chất lượng xếp hạng tín nhiệm và tăng cường bảo vệ nhà đầu tư.

Bên cạnh hai kênh này, việc củng cố năng lực tài chính của các ngân hàng thương mại nhà nước, hỗ trợ huy động vốn quốc tế và kiểm soát cạnh tranh lãi suất không lành mạnh cũng được đặt ra. Các nguồn lực khác như tài chính xanh, tài chính bền vững quốc tế, kiều hối, du lịch, thặng dư thương mại và thị trường carbon cần được khai thác phù hợp.

Đối với thị trường trái phiếu doanh nghiệp, yêu cầu trọng tâm là khắc phục hạn chế về minh bạch thông tin, xác định rõ trách nhiệm của các chủ thể và hoàn thiện cơ chế bảo vệ nhà đầu tư. Việc nâng cao chất lượng thị trường sẽ tạo cơ sở để doanh nghiệp tiếp cận nguồn vốn trực tiếp, giảm sự phụ thuộc vào các khoản vay ngân hàng.

Tháo gỡ điểm nghẽn, nâng hiệu quả sử dụng vốn

Bên cạnh khả năng huy động, năng lực hấp thụ vốn của nền kinh tế là vấn đề cần được quan tâm. Theo TS. Nguyễn Đức Hiển, nguồn vốn chỉ tạo ra giá trị khi dự án có khả năng triển khai và các điều kiện pháp lý, thị trường được bảo đảm thông suốt.

Thực tế, những vướng mắc về thủ tục hành chính, quy hoạch, đất đai, giải ngân đầu tư công và cơ chế phối hợp có thể khiến dự án đình trệ, làm chậm quá trình đưa nguồn lực vào hoạt động sản xuất, kinh doanh. Vì vậy, việc tháo gỡ các dự án tồn đọng và khai thác hiệu quả tài sản công dôi dư cần được triển khai song song với các giải pháp huy động vốn mới.

Một rào cản khác nằm ở khả năng tiếp cận vốn của doanh nghiệp nhỏ và vừa. Các doanh nghiệp thiếu tài sản thế chấp truyền thống thường gặp khó khăn khi vay ngân hàng, trong khi nhiều doanh nghiệp công nghệ có giá trị chủ yếu nằm ở tri thức, tài sản trí tuệ và năng lực đổi mới sáng tạo.

Việc xây dựng cơ chế định giá và quản lý tài sản vô hình phù hợp sẽ mở thêm cơ hội tiếp cận vốn cho nhóm doanh nghiệp này. Cùng với đó, cần đa dạng hóa sản phẩm tài chính và cải thiện khả năng kết nối giữa nhà đầu tư với doanh nghiệp có dự án khả thi.

Đối với khu vực tư nhân, việc tham gia các dự án hạ tầng cần có cơ chế thực hiện rõ ràng, phân định trách nhiệm và phân bổ rủi ro phù hợp. Cơ chế hợp tác công – tư (PPP) cũng cần được hoàn thiện để tăng khả năng huy động nguồn lực ngoài ngân sách cho các dự án phát triển.

Theo định hướng được thảo luận tại hội thảo, nâng cao hiệu quả đầu tư phải gắn với đổi mới sáng tạo, ứng dụng khoa học – công nghệ và tăng năng suất lao động. Việt Nam đặt mục tiêu giảm hệ số ICOR từ mức 6 lần trong giai đoạn 2021–2025 xuống 4,5–4,8 lần trong giai đoạn 2026–2030, đồng thời nâng đóng góp của năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) lên 51–55%.

Các mục tiêu này đòi hỏi nguồn vốn được phân bổ vào những dự án có khả năng tạo giá trị gia tăng cao, cải thiện năng suất và nâng cao năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Huy động vốn với quy mô lớn sẽ khó tạo ra tăng trưởng tương xứng nếu các điểm nghẽn về thể chế, thủ tục và khả năng triển khai dự án chưa được giải quyết.

Khơi thông nguồn vốn tư nhân cho tăng trưởng hai con số

Khơi thông nguồn vốn tư nhân cho tăng trưởng hai con số

Nguồn vốn tư nhân được khơi thông, chuyển hóa hiệu quả thành nguồn lực sẽ tạo tiền đề cho mục tiêu tăng trưởng đột phá trong tương lai.
Hiệu quả lan tỏa từ nguồn vốn khuyến công

Hiệu quả lan tỏa từ nguồn vốn khuyến công

Nguồn kinh phí khuyến công không chỉ hỗ trợ máy móc mà còn tạo sức bật cho sản xuất, xúc tiến thương mại và xây dựng thương hiệu.
Ưu đãi nguồn vốn cho doanh nghiệp nhà nước tạo động lực mới cho đầu tư phát triển

Ưu đãi nguồn vốn cho doanh nghiệp nhà nước tạo động lực mới cho đầu tư phát triển

Sự thay đổi mang tính bước ngoặt trong Luật Quản lý nợ công mở đường cho các doanh nghiệp nhà nước tiếp cận nguồn vốn ưu đãi, hứa hẹn tạo động lực mới cho đầu tư phát triển.
Khơi thông nguồn vốn dài hạn cho doanh nghiệp tư nhân

Khơi thông nguồn vốn dài hạn cho doanh nghiệp tư nhân

Giấc mơ GDP tăng trưởng hai con số và có 20 doanh nghiệp tư nhân lớn vươn ra thế giới vào năm 2030 không chỉ là một mục tiêu, mà còn là một mệnh lệnh. Tuy nhiên, để hiện thực hóa tầm nhìn này, cần một nền tảng tài chính vững chắc. 
Bất động sản hút nguồn vốn FDI

Bất động sản hút nguồn vốn FDI

Trong quý 1/2025, nguồn vốn FDI vào bất động sản Việt Nam đạt được kết quả nổi bật, cả về tốc độ tăng trưởng và chất lượng dòng vốn phản ánh niềm tin của nhà đầu tư quốc tế vào thị trường Việt Nam, đồng thời là động lực quan trọng cho phục hồi và phát triển hạ tầng đô thị, công nghiệp, và du lịch.