hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
Nhập email của bạn để lấy lại mật khẩu
Trong bối cảnh đầu tư công là động lực tăng trưởng quan trọng, bảo đảm nguồn cung vật liệu xây dựng cho các dự án hạ tầng ngày càng mang tính then chốt.
Nghị quyết số
66.4/2025/NQ-CP của Chính phủ, ban hành ngày 21/9/2025, được kỳ vọng sẽ tháo gỡ
những điểm nghẽn kéo dài trong quản lý, khai thác khoáng sản, đặc biệt là đất,
đá, cát... là nhóm vật liệu thiết yếu cho giao thông, đô thị và các công trình trọng
điểm. Tuy nhiên, từ thực tiễn triển khai tại Khánh Hòa, một địa phương có nhu cầu
VLXD lớn cho các dự án hạ tầng chiến lược, nhiều “nút thắt” mới đã bộc lộ, cho
thấy khoảng cách không nhỏ giữa tinh thần chính sách và thực tế áp dụng.
Thực hiện Nghị quyết 66.4/2025/NQ-CP về cơ chế, chính sách đặc thù tháo gỡ khó khăn trong triển khai Luật Địa chất và khoáng sản năm 2024, UBND tỉnh Khánh Hòa vừa có báo cáo gửi Bộ Nông nghiệp và Môi trường, phản ánh chi tiết những vướng mắc phát sinh trong quá trình thực hiện.
Theo Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Khánh Hòa, Nghị quyết 66.4 đã mở ra một khung chính sách mới, cho phép các dự án đầu tư công, dự án PPP, công trình trọng điểm và các dự án phát triển kinh tế - xã hội do Chủ tịch UBND tỉnh quyết định được áp dụng cơ chế đặc thù về mỏ vật liệu.

Điểm cốt lõi của cơ chế này là giảm đáng kể các thủ tục hành chính, cho phép thăm dò, khai thác khoáng sản nhóm III và IV mà không phải thực hiện nhiều bước như phê duyệt dự án đầu tư, chuyển mục đích sử dụng đất hay đấu giá quyền khai thác. Đây là những rào cản từng khiến không ít dự án hạ tầng bị chậm tiến độ, đội vốn, thậm chí phải điều chỉnh quy mô.
Tuy nhiên, khi đi vào thực
tiễn lại đặt ra bài toán về tiêu chí, ranh giới và
cách thức áp dụng.
Một trong những vướng mắc
nổi bật nhất mà UBND tỉnh Khánh Hòa chỉ ra là việc thiếu tiêu chí cụ thể để xác
định dự án được áp dụng cơ chế đặc thù. Trên lý thuyết, Nghị quyết 66.4 cho
phép áp dụng cho các dự án đầu tư công, PPP, công trình trọng điểm và dự án
phát triển kinh tế - xã hội do Chủ tịch UBND tỉnh quyết định. Song trên thực tế,
ranh giới giữa dự án đầu tư công thông thường và dự án phát triển kinh tế - xã
hội cần áp dụng cơ chế đặc thù lại chưa được làm rõ.
Hiện đang tồn tại những
quan điểm khác nhau, có ý kiến cho rằng tất cả các công trình thuộc khoản 1 Điều
2 Nghị quyết 66.4 đều được hưởng cơ chế, trong khi quan điểm khác lại cho rằng
chỉ nên áp dụng cho những dự án có nhu cầu VLXD lớn, thời gian thi công ngắn,
hoặc nằm ở khu vực xa các mỏ đã được cấp phép. Sự thiếu vắng các tiêu chí định
lượng như khối lượng vật liệu cần sử dụng, quy mô đầu tư, mức độ cấp bách về
tiến độ khiến địa phương lúng túng trong việc đề xuất và ban hành quyết định
chấp thuận.
Hệ quả không chỉ dừng lại
ở khó khăn quản lý, mà còn tiềm ẩn nguy cơ khiếu nại, so bì giữa các chủ dự án,
làm gia tăng áp lực pháp lý cho chính quyền địa phương khi phải đưa ra các quyết
định mà thiếu cơ sở rõ ràng.
Một điểm nghẽn khác được
Khánh Hòa nhấn mạnh là các quy định liên quan đến môi trường và quy hoạch. Nghị
quyết 66.4 cho phép bỏ qua thủ tục thẩm định báo cáo đánh giá tác động môi trường
(ĐTM) nhằm rút ngắn thời gian chuẩn bị khai thác. Tuy nhiên, theo báo cáo của tỉnh,
nếu đơn vị khai thác không lập hồ sơ này, cơ quan quản lý sẽ gặp khó khăn trong
công tác kiểm tra, giám sát vi phạm, cũng như thiếu căn cứ để yêu cầu cải tạo,
phục hồi môi trường và đóng cửa mỏ sau khi khai thác kết thúc.
Thực tế này đặt ra câu hỏi lớn: đơn giản hóa thủ tục đến đâu là hợp lý để không tạo ra “khoảng trống” quản lý. Trong bối cảnh yêu cầu phát triển bền vững ngày càng được đặt lên hàng đầu, việc thiếu công cụ pháp lý để kiểm soát môi trường có thể dẫn đến những hệ lụy lâu dài, vượt xa lợi ích ngắn hạn về tiến độ dự án.
Bên cạnh đó, quy định yêu
cầu khu vực khoáng sản phục vụ dự án phải được khoanh định vào khu vực không đấu
giá cũng bị cho là vô tình tạo thêm một bước thủ tục hành chính. Điều này trở
nên mâu thuẫn khi các bước quan trọng khác như phù hợp quy hoạch hay kế hoạch sử
dụng đất lại đã được lược bỏ theo tinh thần cải cách của Nghị quyết.
Cuối cùng, vướng mắc về việc nâng công suất khai thác khoáng sản nhóm III và IV tiếp tục được Khánh Hòa đặc biệt lưu ý. Nghị quyết 66.4 cho phép nâng công suất theo nhu cầu dự án mà không cần điều chỉnh chủ trương đầu tư hay hồ sơ môi trường. Tuy nhiên, văn bản lại chưa làm rõ việc doanh nghiệp có phải lập lại hồ sơ thiết kế khai thác hay không.

Theo Phó Giám đốc Sở Nông nghiệp và Môi trường tỉnh Khánh Hòa, nếu doanh nghiệp buộc phải điều chỉnh thiết kế khi tăng công suất, rồi lại tiếp tục điều chỉnh khi quay về công suất ban đầu sau khi dự án hoàn thành, sẽ phát sinh thêm một vòng thủ tục hành chính không cần thiết. Điều này không chỉ làm tăng chi phí cho doanh nghiệp, mà còn đi ngược lại mục tiêu cốt lõi của Nghị quyết là tạo sự linh hoạt, nhanh gọn trong cung ứng VLXD.
Nghị quyết 66.4/2025/NQ-CP ra đời với mục tiêu rất rõ ràng là tháo gỡ tình trạng khan hiếm VLXD, bảo đảm nguồn cung cho các dự án hạ tầng quan trọng, đặc biệt là giao thông; bảo vệ quyền lợi của người dân, doanh nghiệp thông qua việc đơn giản hóa quyết toán tiền cấp quyền khai thác và xử lý khoáng sản tồn dư, tránh lãng phí và ô nhiễm.
Tuy nhiên, câu chuyện từ Khánh Hòa cho thấy, để cơ chế đặc thù thực sự phát huy hiệu quả, rất cần hướng dẫn chi tiết hơn về tiêu chí áp dụng, quy trình thực hiện và trách nhiệm quản lý. Khi các điểm nghẽn được tháo gơ, địa phương sẽ có cơ sở pháp lý vững chắc để triển khai, doanh nghiệp yên tâm đầu tư, còn Nhà nước vẫn giữ được vai trò điều tiết và bảo vệ tài nguyên.
Trong bối cảnh Việt Nam đang bước vào giai đoạn tăng tốc đầu tư hạ tầng, việc hoàn thiện cơ chế thực thi Nghị quyết 66.4 không chỉ là yêu cầu riêng của Khánh Hòa, mà còn là vấn đề chung của nhiều địa phương. Thước đo cuối cùng của chính sách không nằm ở số lượng văn bản ban hành, mà ở việc những con đường, cây cầu, tuyến cao tốc có được hoàn thành đúng tiến độ, với chi phí hợp lý và tác động môi trường được kiểm soát hiệu quả hay không.