hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
Nhập email của bạn để lấy lại mật khẩu
Việt Nam sẽ ưu tiên bố trí nguồn lực đầu tư từ ngân sách nhà nước hoặc sử dụng các nguồn hỗ trợ, viện trợ không hoàn lại, vốn ODA, vay ưu đãi để triển khai xây dựng các công trình, dự án thích ứng với biến đổi khí hậu có đồng lợi ích với phát triển kinh tế - xã hội.
Những năm gần đây, Việt Nam đã và đang phải đối diện với nhiều thách thức của biến đổi khí hậu bởi sự gia tăng của một loạt hiện tượng khí hậu cực đoan, thiên tai, dịch bệnh.... Ngay từ sớm, Đảng, Nhà nước ta đã có những nhận thức sâu sắc trong việc đề ra các chính sách, định hướng tăng trưởng xanh, phát triển bền vững để ứng phó với biến đổi khí hậu.
Tuy nhiên, Việt Nam giống như nhiều quốc gia đang phát triển khác, đang phải đối mặt với thách thức thiếu nguồn tài chính để giải quyết vấn đề biến đổi khí hậu. Tín dụng xanh đã được giải ngân ở một số lĩnh vực nhưng cũng chỉ chiếm 4,5% trên tổng dư nợ toàn ngành kinh tế. Còn trái phiếu xanh đã phát hành khoảng 1,16 tỉ USD trái phiếu xanh trong giai đoạn 2019-2023, con số này vẫn còn khá khiêm tốn. Theo ước tính của Bộ Kế hoạch và Đầu tư, nhu cầu vốn để thực hiện Chiến lược quốc gia về tăng trưởng xanh giai đoạn 2021 - 2030 có thể lên tới khoảng 872 tỉ USD.
Nhận thức được điều này, thời gian qua, Việt Nam luôn chủ động và tích cực tham gia có trách nhiệm, thực chất, hiệu quả các điều ước quốc tế về biến đổi khí hậu toàn cầu. Theo đó, Việt Nam đã thành lập Ban Chỉ đạo Quốc gia triển khai thực hiện cam kết của Việt Nam tại COP26, ban hành Chiến lược quốc gia về biến đổi khí hậu giai đoạn đến năm 2050, Kế hoạch hành động giảm phát thải khí mê-tan đến năm 2030, Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC) cập nhật năm 2000 và 2022 gửi Ban Thư ký Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu…
Sau 1 năm thông qua Tuyên bố JETP, tại COP28 (tháng 12/2023), Việt Nam chính thức công bố Kế hoạch huy động nguồn lực thực hiện Tuyên bố JETP cùng Nhóm IPG. Đối với việc thực hiện Công ước Vienna về bảo vệ tầng ozone và Nghị định thư Montreal về các chất làm suy giảm tầng ozone, Việt Nam đã loại trừ hoàn toàn các chất CFC, Halon, CTC; các chất HCFC được quản lý, loại trừ theo lộ trình giảm 35% mức tiêu thụ cơ sở và sẽ loại trừ hoàn toàn vào năm 2040...
Đặc biệt, thời gian qua, Chính phủ Việt Nam đã thực hiện mức chi cho sự nghiệp môi trường hàng năm không thấp hơn 1% trong tổng chi ngân sách nhà nước (bao gồm cả ngân sách trung ương và ngân sách địa phương); cơ cấu chi ngân sách địa phương cho bảo vệ môi trường (BVMT) trong tổng chi sự nghiệp môi trường của ngân sách nhà nước bình quân thực hiện trong 10 năm qua đạt khoảng 88%, cao hơn mức 85% theo quy định.
Bên cạnh đó, Chính phủ luôn ưu tiên nguồn lực cho đầu tư và phát triển cơ sở hạ tầng nhằm nâng cao khả năng ứng phó với rủi ro thiên tai thông qua các chương trình mục tiêu về ứng phó với biến đổi khí hậu và tăng trưởng xanh. Đồng thời, cho thành lập Quỹ dự phòng ngân sách ở mỗi cấp khoảng 2 - 4% trong tổng chi dự trữ ngân sách nhà nước sử dụng cho việc phòng, chống, khắc phục hậu quả thiên tai, thảm họa, dịch bệnh, cứu đói và các nhiệm vụ về quốc phòng, an ninh...
Để tiếp tục triển khai các nỗ lực ứng phó với biến đổi khí hậu, ngày 19/11/2024, Phó Thủ tướng Chính phủ Trần Hồng Hà vừa ký Quyết định số 1422/QĐ-TTg về việc ban hành Kế hoạch quốc gia thích ứng với biến đổi khí hậu giai đoạn 2021-2030, tầm nhìn đến năm 2050. Trong đó, một trong những giải pháp quan trọng được đưa ra đó là huy động nguồn lực tài chính, đầu tư cho thích ứng với biến đổi khí hậu.
Theo đó, Việt Nam sẽ ưu tiên bố trí nguồn lực đầu tư từ ngân sách nhà nước hoặc sử dụng các nguồn hỗ trợ, viện trợ không hoàn lại, vốn ODA, vay ưu đãi để triển khai xây dựng các công trình, dự án thích ứng với biến đổi khí hậu có đồng lợi ích với phát triển kinh tế - xã hội và giảm phát thải khí nhà kính; Rà soát, hoàn thiện cơ chế, chính sách thu hút các dòng vốn đầu tư cho thích ứng với biến đổi khí hậu.
Việt Nam cũng sẽ chủ động tiếp cận và huy động nguồn vốn hỗ trợ quốc tế cho thích ứng với biến đổi khí hậu, đặc biệt là các cơ chế tài chính trong khuôn khổ Công ước khung của Liên hợp quốc về biến đổi khí hậu như Quỹ Khí hậu xanh, Quỹ Thích ứng, Quỹ Tổn thất và thiệt hại.
Đồng thời, thu hút sự tham gia của khối tư nhân, các tổ chức xã hội trong nghiên cứu, triển khai các hoạt động thích ứng với biến đổi khí hậu, bao gồm: điều chỉnh hoạt động, chuỗi cung ứng nhằm giảm thiểu tác động của biến đổi khí hậu; đầu tư triển khai các hoạt động thích ứng với biến đổi khí hậu theo phương thức đối tác công tư, hợp tác quốc tế; cung cấp các giải pháp thích ứng mới và mở rộng quy mô.