hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
hoặc
Vui lòng nhập thông tin cá nhân
Nhập email của bạn để lấy lại mật khẩu
Thị trường các bon được kỳ vọng sẽ giúp giảm 50% lượng phát thải khí nhà kính trên toàn thế giới. Việc áp dụng định giá các bon cũng tạo động lực cho doanh nghiệp tư nhân chung tay vì mục tiêu các bon thấp của Việt Nam.
Nhiệm vụ trọng tâm ưu tiên
Phát triển thị trường các-bon trong nước được xác định là nhiệm vụ trọng tâm ưu tiên đã nêu tại Nghị quyết số 24-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về “Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, tăng cường quản lý tài nguyên và môi trường”; Kế hoạch thực hiện Thỏa thuận Paris năm 2016...
Trước đây, do Việt Nam chưa có nghĩa vụ bắt buộc phải cắt giảm phát thải khí nhà kính nên các doanh nghiệp chỉ trao đổi tín chỉ các bon tự nguyện theo các cơ chế hợp tác quốc tế. Từ năm 2021, Việt Nam mới phải thực hiện nghĩa vụ giảm phát thải khí nhà kính theo Đóng góp do quốc gia tự quyết định. Năm 2022, có ý nghĩa đặc biệt, khi ứng phó biến đổi khí hậu toàn cầu bước sang giai đoạn mới với việc các bên bắt đầu thực hiện Thỏa thuận Paris.
Tại Hội nghị Các bên tham gia Công ước khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu lần thứ 26 (COP 26), Việt Nam cam kết giảm 30% lượng phát thải khí mê-tan gây hiệu ứng nhà kính vào năm 2030, giảm phát thải ròng về 0 vào năm 2050. Do vậy, để vận hành thị trường các-bon trong nước, giai đoạn từ nay đến năm 2027, Việt Nam sẽ xây dựng các quy định quản lý tín chỉ các-bon, trao đổi hạn ngạch phát thải khí nhà kính và triển khai thí điểm cơ chế trao đổi, bù trừ tín chỉ các-bon trong các lĩnh vực tiềm năng.
Việt Nam là quốc gia có nhiều tiềm năng tạo nguồn tín chỉ các bon, việc xây dựng các công cụ định giá các-bon, cũng như thị trường các-bon sẽ là động lực mới cho định hướng chuyển đổi kinh tế theo hướng các-bon thấp thông qua các nguồn lực tài chính và công nghệ trực tiếp cho các dự án, cơ sở giảm phát thải.
Cụ thể, theo Đóng góp do quốc gia tự quyết định cập nhật năm 2020, Việt Nam sẽ cắt giảm 9% tổng lượng phát thải khí nhà kính so với kịch bản phát triển thông thường (tương đương với 83,9 triệu tấn CO2) với nguồn lực trong nước. Khi có thêm sự hỗ trợ quốc tế, mục tiêu cắt giảm phát thải khí nhà kính sẽ tăng lên đến 27% so với kịch bản phát triển thông thường (tương đương 250,8 triệu tấn CO2).
Với nguồn lực nội tại, tiềm năng giảm phát thải ở các lĩnh vực: Năng lượng (tương ứng là 51,5 triệu tấn CO2 tương đương), nông nghiệp (6,8 triệu tấn CO2), chất thải (9,1 triệu tấn CO2), các quá trình công nghiệp (7,2 triệu tấn CO2), sử dụng đất, thay đổi sử dụng đất và lâm nghiệp (9,3 triệu tấn CO2)...
❝Theo thống kê của Cục Biến đổi khí hậu (Bộ TN&MT) qua báo cáo của các doanh nghiệp thực hiện chương trình, dự án theo cơ chế tín chỉ các-bon và dữ liệu công bố bởi các cơ chế tín chỉ các-bon, đến nay, Việt Nam đã có hơn 300 chương trình, dự án đăng ký thực hiện theo các cơ chế tín chỉ các-bon. Trong đó, có khoảng 150 chương trình, dự án được cấp hơn 40,2 triệu tín chỉ các-bon và trao đổi trên thị trường các-bon thế giới.❞
Theo số liệu của Tổng cục Lâm nghiệp (Bộ NN&PTNT), mỗi năm, Việt Nam có thể bán ra thị trường thế giới 57 triệu tín chỉ các-bon, cho thấy tiềm năng rất lớn từ nguồn thu này, thậm chí mở ra một ngành kinh doanh mới.
Tuy nhiên, hiện Việt Nam chưa có đơn vị chứng nhận tín chỉ các-bon đạt tiêu chuẩn quốc tế nên việc giao dịch, mua bán, chuyển nhượng tín chỉ các-bon rừng từ xây dựng hồ sơ, phê chuẩn hồ sơ dự án phải thông qua các đầu mối nước ngoài. Điều này đã và đang gây khó khăn cho các chủ rừng trong việc xác định quyền sở hữu các-bon, giao dịch chuyển.
“Cánh cửa lớn” đã mở
Việt Nam đã hoàn thành Đóng góp do quốc gia tự quyết định (NDC) cập nhật và đã gửi Ban Thư ký Công ước khung của Liên Hợp Quốc về biến đổi khí hậu. Bằng sự quyết tâm, trách nhiệm và bằng nguồn lực trong nước, Việt Nam sẽ giảm 9% tổng lượng phát thải khí nhà kính so với kịch bản phát triển thông thường, tương đương 83,9 triệu tấn CO2. Mức đóng góp giảm nhẹ sẽ tăng lên 27%, tương đương 250,8 triệu tấn CO2 khi nhận được hỗ trợ quốc tế.
Nhìn ra thế giới, hiện có 46 quốc gia và 35 vùng lãnh thổ áp dụng hoặc lên kế hoạch áp dụng công cụ định giá các bon, với tổng lượng khí nhà kính được kiểm soát 12 tỷ tấn CO2 tương đương, chiếm 22,3% tổng lượng phát thải khí nhà kính toàn cầu. Đây là hướng đi tiềm năng, bởi chỉ tính riêng năm 2019, nguồn thu từ định giá carbon toàn cầu lên đến 45 tỷ USD.
Còn tại Việt Nam, ước tính có thể bán ra 57 triệu tín chỉ các bon cho các tổ chức quốc tế và nếu tính theo giá 5 USD/tín chỉ, mỗi năm, có thể thu về hàng trăm triệu USD. Đó là những con số rất ấn tượng hứa hẹn là nguồn tài nguyên mới. Và quan trọng hơn phía sau những trị số đó nếu chúng ta biết khai thác hiệu quả sẽ có nguồn kinh phí lớn để nâng cao thu nhập cho người trồng rừng, đồng thời, góp phần không nhỏ bảo vệ và phát triển rừng tại Việt Nam.
Con số đã có, việc còn lại là hiện thực hóa là điều cần tính toán. Để tận dụng tiềm năng từ việc mua bán tín chỉ CO2, chúng ta cần hoàn thiện nhiều quy định chi tiết để hình thành thị trường các bon trong và ngoài nước. Bởi, tham gia thị trường các bon là cơ hội để tạo nguồn thu tài chính, tiếp nhận công nghệ hiện đại ít các và chung tay với thế giới trong mục tiêu giảm khí gây hiệu ứng nhà kính. Muốn làm được điều này, việc xây dựng, vận hành thị trường các bon còn là một quá trình dài, đòi hỏi đầu tư nhiều về kỹ thuật, nhân lực và tài chính.
Do vậy, để hình thành và phát triển thị trường các bon ở Việt Nam, cần xây dựng, ban hành hệ thống kiểm kê khí nhà kính, hệ thống giám sát phát thải khí nhà kính và hệ thống MRV (đo đạc, báo cáo, thẩm định) cấp quốc gia/ngành/tiểu ngành/cơ sở sản xuất một cách minh bạch, chính xác theo tiêu chuẩn quốc tế; xác định lộ trình giảm phát thải khí nhà kính cho từng ngành/tiểu ngành…
Bộ TN&MT cho biết, hiện Việt Nam đang xây dựng “Đề án phát triển thị trường các-bon trong nước”, trong đó tập trung vào giao dịch bắt buộc của việc trao đổi hạn ngạch phát thải khí nhà kính của các doanh nghiệp; trao đổi trong thị trường các-bon trong nước và định hướng kết nối với thị trường quốc tế. Để triển khai lộ trình này cần có sự chuẩn bị kỹ càng về hạ tầng, kỹ thuật, năng lực kiểm kê và báo cáo của doanh nghiệp. Cả nước hiện có 1.912 doanh nghiệp bắt buộc phải kiểm kê khí nhà kính và đáp ứng hạn ngạch phát thải.
Thời gian tới, Bộ TN&MT sẽ tham mưu Thủ tướng Chính phủ phê duyệt tổng thể hạn ngạch của Việt Nam và phân bổ cho các cơ sở trong giai đoạn 2026-2030 và hằng năm. Như vậy, các doanh nghiệp sẽ tham gia giảm phát thải khí nhà kính. Đồng thời, các nhà đầu tư nước ngoài, các quốc gia cũng sẽ thúc đẩy hợp tác với Việt Nam, nhất là các dự án có tiềm năng tạo tín chỉ các-bon để thực hiện Thỏa thuận Paris về biến đổi khí hậu và đây cũng là nguồn tín chỉ để giao dịch, trao đổi trên thị trường.
Các chuyên gia, nhà quản lý lĩnh vực môi trường, biến đổi khí hậu cho rằng, để triển khai và phát triển thị trường các-bon trong nước một cách hiệu quả, Chính phủ cần sớm ban hành đầy đủ quy định về các hoạt động kết nối, trao đổi tín chỉ các-bon trong nước với thị trường các-bon khu vực và thế giới; xây dựng quy định quản lý tín chỉ các-bon, hoạt động trao đổi hạn ngạch phát thải khí nhà kính và tín chỉ các-bon; xây dựng quy chế vận hành sàn giao dịch tín chỉ các-bon.
Triển khai thí điểm cơ chế trao đổi, bù trừ tín chỉ các-bon trong các lĩnh vực tiềm năng và hướng dẫn thực hiện cơ chế trao đổi, bù trừ tín chỉ các-bon trong nước và quốc tế phù hợp quy định của pháp luật và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên; sớm thành lập và tổ chức vận hành thí điểm sàn giao dịch tín chỉ các-bon kể từ năm 2025, vì theo lộ trình đến năm 2028, thị trường các-bon trong nước của Việt Nam sẽ vận hành chính thức.
Trên cơ sở tổng hạn ngạch phát thải khí nhà kính quốc gia, Bộ TN&MT sẽ ban hành định mức phát thải khí nhà kính trên đơn vị sản phẩm cho giai đoạn 2026-2030 và hằng năm đối với các loại hình cơ sở sản xuất, kinh doanh. Căn cứ theo kế hoạch sản xuất, kinh doanh, thị trường sẽ xuất hiện các bên có nhu cầu mua hạn ngạch phát thải cũng như các bên có nguồn hàng tín chỉ giảm phát thải; đồng thời, đẩy mạnh các hoạt động truyền thông nâng cao nhận thức để các cơ sở, doanh nghiệp phát triển công nghệ, các bên dịch vụ; khuyến khích doanh nghiệp tham gia thị trường các-bon trong nước hiệu quả.
“Đường lớn” đã mở, việc còn lại là xây dựng những quyết sách để tạo dựng con đường đó khang trang, thịnh vượng hơn ra sao!